“NGÃ BA ĐỒNG LỘC - KHÚC TRÁNG CA BẤT TỬ CỦA MƯỜI ĐÓA HOA LỬA”

Trong chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam, có những địa danh không chỉ là một vùng đất, mà đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của lòng yêu nước, của sự hy sinh và tuổi thanh xuân hiến dâng cho Tổ quốc. Ngã ba Đồng Lộc – mảnh đất nhỏ bé thuộc huyện Can Lộc, Hà Tĩnh – chính là một nơi như thế. Nhắc đến Đồng Lộc, lòng người Việt Nam không khỏi nghẹn lại khi nhớ về sự hy sinh anh dũng của mười nữ thanh niên xung phong Tiểu đội 4, Đại đội 552 vào ngày 24/7/1968, khi tuổi đời của họ chỉ vừa mười tám, đôi mươi. Giữa mưa bom bão đạn, các chị đã hóa thành bất tử, trở thành mười đóa hoa lửa rực sáng trên tuyến đường huyết mạch nối hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam. Câu chuyện ấy càng trở nên day dứt hơn qua lời kể của những người đồng đội còn sống, trong đó có bà Trần Thị Bích Thao – người mang ký ức chiến tranh suốt đời như một vết khắc không bao giờ phai. Theo các tư liệu lịch sử, ngày 24/7/1968, sau trận bom thứ 15 trong ngày, một quả bom đã đánh sập hầm trú ẩn của Tiểu đội 4, khiến 10 cô gái hy sinh tại chỗ.
Mười cô gái thanh niên xung phong ở Ngã ba Đồng Lộc ấy thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 552, Tổng đội 55, bao gồm: Võ Thị Tần (24 tuổi, Tiểu đội trưởng), Hồ Thị Cúc (24 tuổi, Tiểu đội phó), Nguyễn Thị Nhỏ (24 tuổi), Dương Thị Xuân (21 tuổi), Võ Thị Hợi (20 tuổi), Nguyễn Thị Xuân (20 tuổi), Hà Thị Xanh (19 tuổi), Trần Thị Hường (19 tuổi), Trần Thị Rạng (18 tuổi), Võ Thị Hà (17 tuổi), họ đã ngã xuống.
Di ảnh của 10 cô gái TNXP ngã ba Đồng Lộc được phục chế và treo tại Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Ngã ba Đồng Lộc.
Ảnh: Đức Hùng
Nguồn:https://vov.vn/van-hoa/10-co-gai-nga-ba-dong-loc-huyen-thoai-con-vang-mai-post1034735.vov
Những năm 1964–1972, Ngã ba Đồng Lộc là “tọa độ lửa” khốc liệt bậc nhất trên tuyến đường Trường Sơn. Đây là điểm giao cắt chiến lược, nơi từng đoàn xe chở lương thực, vũ khí, thuốc men từ miền Bắc phải đi qua để chi viện cho miền Nam ruột thịt. Chính vì vậy, không quân Mỹ đã tập trung đánh phá nơi đây với cường độ chưa từng có. Chỉ riêng trong 240 ngày đêm cao điểm năm 1968, Đồng Lộc phải hứng chịu gần 50.000 quả bom, mặt đất bị cày xới, núi đồi tan hoang, sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc. Nhưng giữa mưa bom ấy, hàng vạn thanh niên xung phong vẫn ngày đêm bám trụ, san lấp hố bom, mở đường cho xe qua với quyết tâm “tim có thể ngừng đập nhưng đường không thể tắc”.
Tiểu đội 4, Đại đội 552 gồm những cô gái tuổi từ 17 đến 24, phần lớn xuất thân từ những miền quê nghèo Hà Tĩnh. Họ vốn là những thiếu nữ bình dị với biết bao ước mơ rất đỗi đời thường: một mái nhà, một gia đình, một tuổi xuân đầy tiếng cười. Nhưng khi Tổ quốc gọi tên, các chị đã gác lại tất cả để khoác ba lô ra trận. Họ sống trong bom đạn nhưng vẫn giữ nguyên vẻ hồn nhiên, yêu đời, vẫn hát vang giữa chiến trường khốc liệt. Chính sự đối lập ấy khiến câu chuyện về họ càng trở nên cảm động: những con người bé nhỏ nhưng mang trong mình sức mạnh tinh thần lớn lao hơn bất kỳ thứ vũ khí nào.
Ngày 24 tháng 7 năm ấy, như bao ngày khác, Tiểu đội 4 nhận nhiệm vụ san lấp hố bom, bảo đảm tuyến đường thông suốt. Bom đạn dội xuống liên tiếp, đất đá tung mù trời, nhưng các chị vẫn kiên cường bám đường. Đến khoảng 16 giờ, sau nhiều đợt ném bom, một quả bom ác liệt đã rơi trúng khu vực hầm trú ẩn chữ A. Đất đá sụp xuống, chôn vùi cả mười cô gái trẻ. Chỉ trong khoảnh khắc, mười cuộc đời đẹp nhất đã hóa thành huyền thoại. Đồng đội đào bới trong tuyệt vọng, gọi tên từng người giữa khói bụi và nước mắt. Chín thi thể được tìm thấy, riêng chị Hồ Thị Cúc phải ba ngày sau mới được phát hiện. Hình ảnh ấy đã trở thành nỗi đau khôn nguôi, đi vào thơ ca qua tiếng gọi nghẹn lòng “Cúc ơi!”.
Điều khiến câu chuyện thêm phần ám ảnh là lời kể của những người may mắn sống sót, trong đó có bà Nguyễn Thị Ý– người từng gắn bó với lực lượng thanh niên xung phong và mang trong tim ký ức không thể xóa nhòa về Đồng Lộc. Sự may mắn thoát chết đôi khi không phải là niềm vui trọn vẹn, mà là nỗi day dứt kéo dài suốt cả cuộc đời. Khi đồng đội nằm lại dưới lòng đất mẹ, người sống sót phải mang theo câu hỏi đau đáu: “Giá như hôm ấy mình ở đó?”. Chính cảm giác ấy khiến chiến tranh không chỉ cướp đi sinh mạng, mà còn để lại những vết thương tinh thần dai dẳng cho những người ở lại. Qua lời kể của nhân chứng, ta hình dung rõ hơn không khí của Đồng Lộc năm ấy: tiếng bom gào, đất rung chuyển, những khuôn mặt trẻ trung lấm lem bùn đất nhưng ánh mắt vẫn sáng rực niềm tin. Họ không coi cái chết là điều đáng sợ nhất; điều đáng sợ nhất với họ là con đường bị tắc, đoàn xe không thể vào Nam. Chính lý tưởng ấy đã nâng bước những cô gái tuổi mười tám vượt lên trên nỗi sợ hãi bản năng. Họ chiến đấu không phải bằng súng đạn, mà bằng cuốc xẻng, bằng đôi tay trần và trái tim quả cảm.
Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, ký ức về 10 cô gái TNXP còn vẹn nguyên trong tâm trí bà Nguyễn Thị Ý – người nấu nồi cháo cuối cùng cho 10 cô gái TNXP ăn để đi làm nhiệm vụ.
Ảnh: THÂN BA Nguồn:https://laodong.vn/xa-hoi/nhan-chung-song-ke-chuyen-10-trinh-nu-nga-ba-dong-loc-618824.ldo
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, Ngã ba Đồng Lộc hôm nay không còn tiếng bom rơi, chỉ còn tiếng chuông ngân giữa đồi thông và dòng người lặng lẽ về dâng hương tưởng niệm. Khu di tích quốc gia đặc biệt nơi đây trở thành địa chỉ đỏ, nhắc nhở các thế hệ hôm nay về cái giá của hòa bình. Mỗi nén nhang thắp lên không chỉ là sự tri ân, mà còn là lời hứa sống xứng đáng với những người đã ngã xuống. Mười cô gái Đồng Lộc đã ra đi, nhưng họ không mất. Họ sống trong những trang sách lịch sử, trong lời ru của mẹ, trong những bài thơ, bản nhạc, và trong trái tim hàng triệu người Việt Nam. Họ là minh chứng rằng lòng yêu nước không phải là điều gì xa vời, mà có thể bắt đầu từ việc giữ cho một con đường thông suốt, từ một nhát cuốc giữa mưa bom, từ sự lựa chọn đứng lại khi người khác có thể lùi bước.



