NGÀY ẤY - KHÔNG THỂ QUÊN 1
BUỔI BAN ĐẦU
Tôi nhớ như in buổi học hôm đó, đúng vào tiết thứ 3 đang học bài Giao thoa môn Vật lý lớp 9 (tương đương với lớp 11 bây giờ), đang chú ý nghe cô giáo Hạnh Sâm giảng bài thì cô giáo chủ nhiệm Kiều Nga bước vào. Cả lớp ngừng học, nghe cô đọc giấy gọi nhập ngũ, lớp 9E chúng tôi có 2 người là tôi và Nguyễn Khắc Hoà. Thời gian rất gấp cả lớp bàng hoàng không kịp liên hoan chia tay, chúng tôi gấp sách vở, tạm biệt lớp học thân yêu với nụ cười rớm nước mắt. Ra khỏi lớp 2 đứa chúng tôi tần ngần, tôi cố nhìn lại quang cảnh của trường và lớp học của mình.Nói là lớp học thực ra là một cái hầm nổi, xung quang đắp bùn đất dày, trên lợp tranh. Hình ảnh thân thương này theo suốt chúng tôi những năm tháng chiến trường. Đi bộ nhẹ nhàng như vậy đó, bạn tôi Trương Xuân Tân có câu thơ rất hay:
“Đi bộ đội nhẹ nhàng như chiếc lá
Rơi nghiêng nghiêng trong đêm”.
Cùng nhập ngũ một ngày, trường Cấp 3 Nghi Lộc 1 chúng tôi có các bạn sau: Tôi (Hồ Thế Thắng), Nguyễn Khắc Hoà, Võ Mạnh Nga, Trương Xuân Tân, Mai Đại Dũng, Nguyễn Ngọc Hùng, Phạm Đình Minh đều ở Nghi Hải và Nguyễn Bá Nhâm ở Nghi Phong.Hầu hết chúng tôi chưa đủ tuổi, phải khai thêm 1 tuổi.Cùng đợt này ở xã Nghi Hải chúng tôi có thêm Phạm Văn Thúc, Nguyễn Văn Đình, Nguyễn Văn Hoà, Trần Văn Cháu, Ngô Thanh Giáp và Võ Văn Hoà. Riêng làng Phương Thượng quê tôi có đến 8 người là Thắng, Khắc Hoà, Nga, Tân, Thúc, Võ Hoà, Giáp và Đình. Bây giờ các bạn: Nguyễn Khắc Hoà, Trần Văn Cháu, Nguyễn Văn Đình, Võ Văn Hoà đã rời xa trần thế .Cầu chúc linh hồn các bạn được siêu thoát nơi cõi vĩnh hằng.
Đúng ngày 13/01/1972 chúng tôi tập trung tại Sân vận động xã Nghi Trung nhận quân trang và hành quân về đơn vị huấn luyện. Lính Nghi Hải chúng tôi tất cả đều được vào Đại đội 10, Tiểu đoàn 10, Đoàn 22. Chúng tôi đóng quân ở xã Nghĩa Thuận, huyện Nghĩa Đàn, ven rừng cao su của Nông trường Đông Hiếu.Tuy đã là lính nhưng thói tinh nghịch của tuổi học trò vẫn luôn đeo bám chúng tôi. Hồi đó bữa ăn của chúng tôi còn thiếu và chưa đủ no, tôi còn nhớ có đêm đến ca gác chúng tôi đi đào trộm sắn của dân nướng ăn, cũng có đêm lấy trộm bánh mỳ của nhà bếp… Huấn luyện gần 2 tháng chúng tôi bắn súng bia 100m, tôi nhớ Nguyễn Ngọc Hùng đạt 29 điểm được gắn hoa trên ngực, còn tôi chỉ được 26 điểm. Sau đó chúng tôi được về nghỉ phép ăn Tết Nhâm Tý (1972). Ngày về phép tôi mượn xe đạp về thăm lại trường nhưng chỉ tần ngần đứng ở xa quan sát vì lúc này đang là giờ học. Ăn Tết xong, ngày mùng 6 (âl) chúng tôi có mặt tại đơn vị để hoàn thành nốt một số khoa mục để vào chiến trường. Lúc này Nguyễn Khắc Hoà được cử đi học lái xe (ở đơn vị Hoà làm liên lạc đại đội). Giữa tháng 3/1972 chúng tôi làm Lễ xuất quân vào chiến trường tại buổi lễ Nguyễn Văn Đình bị cảm và ngất xỉu nên không cùng chúng tôi vào chiến trường đợt này.
Chúng tôi đi bộ từ Nghĩa Thuận xuống Ga Cầu Giát, từ Ga Cầu Giát chúng tôi lên tàu hoả vào Vinh, từ Nghĩa Thuận về Vinh mất 2 ngày.Từ Ga Vinh chúng tôi đi bộ 4km về trạm giao liên Hưng Dũng, hành quân vào Nam tôi được cử làm A trưởng. Nhận nhà để nghỉ xong, chúng tôi tranh thủ chạy bộ về thăm nhà (từ Hưng Dũng về Nghi Hải chỉ 7km), tôi về nhà không gặp được bố tôi vì ông đi biển chưa về, sau đó chúng tôi quay lại đơn vị. Tại Hưng Dũng chúng tôi học cách mắc võng và đào bếp Hoàng Cầm. Hai ngày sau hành quân, từ Hưng Dũng tiểu đoàn chúng tôi đi bộ xuống Hưng Hoà, sát bên còn có 1 tiểu đoàn khác nước mắt chảy ròng: Đó là Tiểu đoàn người nhà tiễn con em vào chiến trường. Từ Hưng Hoà chúng tôi đi ca nô vào xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, ở Xuân Viên 1 ngày, hôm sau xe tải chở vào trạm giao liên ở xã Quảng Liên-Quảng Trạch-Quảng Bình.Ở đây cũng một ngày, hôm sau đi ca nô lên trạm T15 Cự Nẫm-Bố Trạch- Quảng Bình. Tại đây chúng tôi vào chiến trường bằng 2 đợt: Đợt 1 có: Ngọc Hùng, Mạnh Nga, Võ Văn Hoà đều Nghi Hải và Tuệ, Chí, Khương ở Nghi Hoà các bạn đều vào Binh trạm 28 và 42.Lúc chia tay, tôi có viết vào sổ tay của Võ Mạnh Nga 4 câu thơ (bập bẹ tập làm thơ):
HOA CHIẾN CÔNG
Đường con đi trải dài theo nỗi nhớ
Nhịp bước quân hành vang tiếng quân ca
Đường con đi hoa chiến công lấp lánh
Con hái hoa này xin tặng mẹ thân yêu.
Đợt 2 những người còn lại, tiểu đội tôi có Phạm Văn Thúc, chúng tôi được xe tải chở vào ban đêm nên chúng tôi không quan sát được gì.Đường đầy ổ voi, xóc ghê gớm, chạy suốt 1 đêm và gần 1 ngày chúng tôi dừng chân ở trạm giao liên ở Ngã Ba Dân Chủ (địa danh này tôi thực tế không nhớ rõ nữa). Lần đầu tiên tôi mới biết thế nào là vắt, vì ngủ dậy buổi sáng tôi thấy quần tôi đầy máu và trên chân tôi còn mấy con vắt đen trũi mọng đỏ to gần bằng ngón tay út. Bắt đầu từ đây chúng tôi bước vào chiến trường.
Đúng như câu thơ tâm lý mà truyền đơn rải: “Bốn tháng trời đêm nghỉ ngày đi/ Dày vạt gót áo sờn vai thấm lạnh…”, với 35 kg trên vai, chúng tôi vượt Trường Sơn. Tôi sững sờ khi đặt chân ở đầu nguồn sông Bến Hải, lúc này trong tôi trào dâng cảm xúc về những gì đã được học, về sự chia cắt Bắc – Nam, qua sông đặt chân lên đất Quảng Trị anh hùng, đường giao liên băng qua Đường 9.Chúng tôi leo Trường Sơn, có những đoạn đường mới mở chân người trước đạp đầu người sau, gian khổ lắm.Một số đồng chí không chịu được phải vất lại dọc đường chăn chiên và một số tư trang để nhẹ bớt đôi vai. Tôi nhớ vượt đèo Ngàn Lẻ Một, sáng leo đèo đến 2 giờ chiều mới đến đỉnh đèo.Đứng ở đây có thể nhìn thấy đồng bằng Trị Thiên rộng lớn.Gian khổ vậy nhưng tối đến khi mắc võng bên cạnh nhau lại trò chuyện râm ran, sau này nhớ lại tôi có viết:
“Đêm không ngủ lòng man mác nhớ
Kỷ niệm xưa ngày ấy ở chiến trường
Giữa rừng già đỉnh núi mờ sương
Xuyên kẽ lá trăng treo đầu võng
Mấy đứa thì thầm chuyện cô bạn dễ thương
A trưởng bảo thôi đừng lõng nhõng
Tranh thủ ngủ đi mờ sáng lại lên đường”
Đúng nửa tháng trời đêm nghỉ, ngày đi, hai ngày cuối chúng tôi phải ăn cháo đói meo. Tôi nhớ đồng chí đến nhận quân tại trạm giao liên giới thiệu tên là Phạm Viết Nguyện Đại đội trưởng. Chúng tôi được xếp lên xe để về đơn vị, xe chuẩn bị chuyển bánh tôi tia thấy có kho quân nhu bên cạnh.Tôi và Huyện người Nghi Thiết nhảy xuống đột nhập vác ngay 2 thùng lương khô 701 vất lên xe (đói quá mà), xe chạy thùng lương khô được khui ra. Tân thò tay vào trước lấy lương khô, rút tay ra bị ngay vết cứa sâu vào tay máu chảy nhiều, bây giờ vẫn còn sẹo.
Từ đây toàn bộ anh em Nghi Hải và Nghi Hoà được biên chế vào Tiểu đoàn 39, Binh trạm 41, đó vào khoảng giữa tháng 4/1972. Tôi, Phạm Đình Minh, Phạm Văn Thúc cùng ở C2 do anh Phạm Viết Nguyện làm C trưởng, anh Vũ Khai làm Chính trị viên (anh Nguyện ở Khánh Sơn-Nam Đàn, anh Khai ở Thanh Lĩnh-Thanh Chương), bây giờ các anh vẫn khoẻ và chúng tôi thỉnh thoảng lại gặp nhau. Trương Xuân Tân về Trung đội 12ly7 của tiểu đoàn, Mai Đại Dũng, Trần Văn Cháu và Nguyễn Văn Hoà về C9. Một chuỗi ngày gian khổ, ác liệt nhưng đầy hào hùng, sống dậy trong lòng chúng tôi lời thơ: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Một mùa mưa lầy lội, chúng tôi phải ứng cứu đường, chặt gỗ để chống lầy, vận chuyển đá để lát đường…Rồi sốt rét rừng, từng cơn rét run, ngoài nóng trong lạnh, chân tay rã rời, có người sốt rụng sạch cả tóc, uống thuốc ký ninh vàng mà ớn cả người, mỗi lần nhìn thấy thuốc là phát sợ, chưa hết phải tiêm Qui nin ở mông, mấy ngày sau vẫn không tan, đau ê ẩm. Đặc biệt là bệnh chán ăn, chỉ thèm đồ chua, lúc lên cơn mà vớ được mấy quả khế chua thì thật tuyệt vời. Đã là lính Trường Sơn thì sốt rét là cơm bữa, thú thật mới vào chiến trường ở độ tuổi 17 này hơn nữa lại là dân biển tôi thuộc loại khoẻ, sốt 40 độ vẫn ra mặt đường ứng cứu xe.
Ngày 23/5/1972, 2 giờ chiều một chiếc máy trinh sát 2 thân OV10 lượn lờ khu vực A Lưới, bất chợt 1 loạt đạn pháo 37 ly vang lên nhằm vào máy bay nhưng không trúng. 5 phút sau một loạt đạn khói trùm lên khu vực Dốc Con Mèo – A Lưới, sau đó từng tốp máy bay F15, F4 thi nhau thả bom. Cả một cánh rừng già nguyên sinh khói bom mù mịt, cây gãy ngổn ngang. Chưa hết sau trận đánh phá ác liệt này là một đợt mìn vướng được thả xuống bao vây toàn bộ khu vực, lúc này vào khoảng 4giờ30 chiều. Một Đại đội 37ly của Binh trạm 28 và Trung đội 12ly7 của bạn tôi là Trương Xuân Tân và Phan Văn Thuỷ ngập chìm trong khói đạn và thương vong. Thuỷ hy sinh ngay tại chỗ cùng với 5 liệt sỹ khác.Thi hài các anh và các thương binh không đưa ra được vì bị mìn vướng bao vây. 6 liệt sỹ được đặt trên tảng đá lớn giữa dòng suối không tên chảy ngay dưới chân Dốc Con Mèo, trước mặt Địa đạo nơi trung đội của Tân đóng quân.
Trung đội chúng tôi ngay chiều và đêm đó được lệnh phá vây. Do áo giáp và mũ sắt thiếu nên chúng tôi dàn thành 2 hàng.Hàng đầu mặc áo giáp và đội mũ sắt cầm sào ngắn hơn hàng sau không có giáp và mũ, cách phá mìn vướng cũng đơn giản nhưng yêu cầu phải thật cẩn thận và tỷ mẩn, không được bỏ sót bất cứ khoảng cách nào (mìn vướng giống quả bom bi, khi thả xuống nó có 4 sợi dây dù bung ra 4 hướng, chỉ cần chạm vào dây là mìn nổ, phạm vi sát thương khá rộng). Mãi đến gần sáng chúng tôi mới mở thông đường để đưa các thương binh ra ngoài. Năm 2009 về thăm lại chiến trường xưa chúng tôi về lại Địa đạo và đến thắp hương nơi đặt các thi hài liệt sỹ. Năm 2006 tôi cùng vợ và con trai đầu vào thăm nghĩa trang Trường Sơn đã tìm được mộ của Liệt sỹ Phan Văn Thuỷ, tôi đã về thông báo với các bạn và năm 2009 chúng tôi đã thắp hương cho Thuỷ và các liệt sỹ ở Nghĩa trang Trường Sơn.
Sau trận này, tôi được điều về chốt ở các trọng điểm, các địa danh ở Đông và Tây Trường Sơn hầu hết đều có bàn chân tôi đặt đến, đó là Ngầm Li Tôn, Đèo 40, Bò Lạch, Dốc Thơm, Cha Ky, Bản Đông, Bãi Đá, Mường Noòng. Tôi còn nhớ Phạm Đình Minh bị bỏng thương nặng tại Bò Lạch vào tháng 7/1973, sau đó Minh được chuyển ra Bắc điều trị và chuyển ngành, may mắn sau này tôi và Minh cùng dạy học tại Trường THPT Nghi Lộc 3, hiện Minh đang dạy, cuối năm sau mới nghỉ hưu.Còn tôi do sức khoẻ đã nghỉ hưu năm 2011 theo NĐ 132. Tôi còn nhớ sau trận 23/5 đó tôi viết bài thơ sau:
ĐỢI ANH
Khi nào chim én lượn trời xanh
Con bồ câu trắng đến lượn vành
Đất nước thanh bình không bóng giặc
Ngày ấy em ơi hãy đợi anh
Và đây là kỷ niệm không bao giờ quên, vào tháng 9/1972 tại Đèo 40 tôi gặp Nguyễn Khắc Hoà trong đội hình xe của Tiểu đoàn 871Gặp tôi Hoà ôm chầm lấy, hai đứa tôi khóc oà lên, Hoà kể cho tôi nghe về quê hương Nghi Hải thân yêu. Hoà nói quê mình là bãi cát trắng mệnh mông suốt từ Cửa Hội-Cửa Lò, máy bay Mỹ nó tàn phá cả khu rừng phi lao chắn cát biển suốt một dải có chiều dài 5km. Hoà về quê mà không gặp được gia đình (vì gia đình Hoà sơ tán ở xã Cao Sơn, Đô Lương), còn Hoà gặp được bố tôi, Hoà nói ông khoẻ, gia đình tôi sơ tán ở xã Nghi Phong gần cạnh Nghi Hải.Rồi Hoà kể một số chuyện về lớp 9E mà Hoà biết, chỉ có 30 phút thôi mà sao trong tôi dâng lên nỗi nhớ quê da diết. Sau này chúng tôi gặp lại nhau vài ba lần nữa ở các trọng điểm Tây Trường Sơn. Hoà ra quân năm 1978 và bị bệnh mất năm 1982 (đã có vợ và một con, con gái Hoà hiện đã lấy chồng và có hai cháu).
Một kỷ niệm buồn cứ đeo đẳng tôi từ năm 1973 cho đến bây giờ. Hồi đó ở Bò Lạch, giữa trưa trời nắng chang, nghe tiếng nổ bùng, tôi và Phạm Văn Thúc chạy dọc theo bờ suối khoảng 1km thì gặp Trần Văn Cháu đang nằm bên bờ suối, một cánh tay nát nhừ máu chảy đầm đìa.Tôi băng tạm cho Cháu, sau đó tôi và Thúc thay nhau cõng Cháu xuyên rừng khoảng 4 km tìm đội phẫu của tiểu đoàn để cấp cứu, cánh tay của Cháu phải cắt đi.Sau này phục viên về Cháu không được thương binh, chúng tôi rất buồn, vì hồi đó Cháu ở C9 nên chúng tôi không thể bảo vệ quyền lợi cho Cháu được (Cháu bị thương khi dùng mìn ném cá cải thiện đời sống). Về quê do buồn bực nhiều chuyện, chuyện gia đình, chuyện xã hội Cháu đã tự tử, chúng tôi rất buồn, mong sao bạn siêu thoát nơi cõi vĩnh hằng.



