Bài viết

"Ngày ấy phải đến với chúng ta..."

Đằng đẵng 13 năm trời xa nhau, tình yêu và nỗi nhớ thương dồn nén trong lòng… để rồi họ đã viết và trao gửi cho nhau hơn 100 bức thư...

Hà Tĩnh12/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đằng đẵng 13 năm trời xa nhau, tình yêu và nỗi nhớ thương dồn nén trong lòng… để rồi họ đã viết và trao gửi cho nhau hơn 100 bức thư. Những lá thư thời chiến nhuốm màu thời gian, thấm đẫm cả mồ hôi, máu và nước mắt là kết quả của một tình yêu trong sáng… Chủ nhân của những lá thư và câu chuyện tình đẹp mãi ấy là Đại tá Huỳnh Phương Bá (hiện 84 tuổi) và bà Vương Thị Tiệng (77 tuổi), ở K482 phố Trưng Nữ Vương (TP Đà Nẵng)…

Vợ chồng ông Bá đang xem lại những bức thư thời chiến.

Câu chuyện tình yêu của ông bà đẹp và giản dị như chính cuộc đời của họ vậy… Năm 1954, Huỳnh Phương Bá tập kết ra Bắc. 24 tuổi, đẹp trai, phong độ, lại là cán bộ trung đội nên Phương Bá được nhiều cô gái xứ Nghệ “để ý”. Hồi đó, nữ sinh Vương Thị Tiệng đang học tại trường cấp 2 Nam Đàn. Ấn tượng lần đầu tiên khi Bá gặp Tiệng là hình ảnh cô gái tóc xõa ngang vai, đôi mắt bồ câu đen láy, miệng cười chúm chím. Không ngờ cái nhìn đầu tiên ấy đã để lại trong tâm hồn chàng trai tập kết bao nỗi luyến lưu. Hai năm sau, lễ cưới bình dị, giản đơn được tổ chức tại Nam Đàn (Nghệ An). Đám cưới “nhà binh” diễn ra vào những ngày giáp Tết nên họ hàng anh em, bạn bè, đồng đội đến chúc mừng rất đông. Tiệc cưới chỉ thuốc lá với kẹo lạc và nước chè xanh nhưng rất ấm áp…

Cưới nhau cuối năm 1960 thì đầu năm 1961 Huỳnh Phương Bá chia tay người vợ trẻ vào miền Nam chiến đấu. Họ đâu có ngờ rằng, giây phút bịn rịn chia tay bên dòng sông Tây Hiếu năm nào… để rồi 14 năm sau mới có ngày gặp lại…

Bức thư viết ngày 9-4-1961, trên đường hành quân vào miền tây Quảng Ngãi, giữa ì oàng tiếng súng, song những dòng tâm sự của ông vẫn nồng nàn, tha thiết và lạc quan, tin tưởng vào ngày mai: “Em ở lại trong sự dìu dắt của Đảng, có sự giúp đỡ của tập thể, bạn bè và gia đình anh em thì em sẽ lớn lên… Vợ chồng ai chả muốn gần nhau trong tình âu yếm! Nhưng Tổ quốc còn bị chia đôi, cho nên cảnh sum vầy tạm thời bị gián đoạn. 7 năm rồi, anh xa ba mẹ yêu dấu, xa các anh, các chị mến thương và giờ đây phải xa người vợ thân yêu nhất của mình mà chưa hẹn ngày gặp mặt, nhưng chắc chắn rằng, ngày ấy phải đến với chúng ta…”.

Giữa sự sống và cái chết cận kề trong gang tấc, nhưng tinh thần của người chiến sĩ vẫn không hề nao núng. Viết thư cho vợ đúng vào ngày Quốc khánh 2-9-1962, ông nhắn nhủ: "Trong ngày lịch sử của dân tộc, anh gửi đến em những dòng tình cảm chân thành nhất. Gần một năm rưỡi rời nhà có biết bao nhiêu chuyện đổi thay. Sống ở đây, một cuộc sống sôi nổi, một cuộc chạy đua quyết liệt với quân thù, công việc bề bộn, thấy ngày tháng trôi nhanh. Đặc biệt, ở đây không có tuần, có thứ...”.

Có lẽ đối với người lính, nỗi nhớ quê hương, nỗi nhớ người thân yêu của mình đến cháy lòng là thời khắc Giao thừa, chuyển sang năm mới. Và càng nhớ, càng thương bao nhiêu thì người chiến sĩ càng thêm nung nấu ý chí quyết chiến quyết thắng với kẻ thù xâm lược. Trong lá thư đề ngày Mồng Một Tết Quý Mão năm 1963, ông Bá viết: “Em mến yêu. Xa nhau, muốn gần nhau đó là mơ ước của chúng ta và anh cũng như em sẽ phấn đấu cho một tương lai đầy hạnh phúc, không còn chiến tranh…”.

Nếu như những lá thư ông Bá viết cho bà Tiệng từ nơi chiến trường ác liệt, đầy mất mát, hy sinh nhưng vẫn lạc quan, tin tưởng, thì những cánh thư của bà Tiệng gửi từ hậu phương lớn miền Bắc lại sáng ngời lý tưởng cách mạng: “Phương Bá anh yêu! Lần nào gửi thư cho em anh cũng đều nhắc đến hai chữ “hy sinh” vì cách mạng, điều ấy em rất hiểu. Trong khi non sông chưa thống nhất, một nửa đất nước còn bị kẻ thù giày xéo, lẽ nào vì quyền lợi cá nhân mà quên đi nhiệm vụ cao cả đối với Tổ quốc, cũng vì nghĩ như thế nên em đã cố gắng rất nhiều trong công tác, trong tư tưởng để chiến thắng mọi điều kiện…”.

Thư cho chồng ngày 10-4-1965, bà Tiệng viết: “Anh ạ! Trong gian khổ, trong chiến đấu mới thấy được tinh thần yêu nước nồng nàn và ý chí quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta. Anh ơi! Cả miền Bắc đang hướng về miền Nam ruột thịt. Miền Bắc sẽ làm tất cả để cung cấp sức người, sức của cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược…”.

Chiến tranh phải mất mát và hy sinh là điều không thể nào tránh khỏi, song tình yêu cao đẹp, thủy chung đã giúp họ vượt qua những khó khăn, trở ngại. Họ đành “gác tình riêng” để dành cho Đảng, cho cách mạng. Vì lẽ đó nên bà Tiệng viết thư cho chồng vào ngày 26-2-1966 cũng thể hiện rõ lập trường, quan điểm của mình: “Liên tục mấy ngày nay, nghe được tin chiến thắng ở miền Nam, có lẽ anh và đồng đội cũng đóng góp một phần vào chiến thắng đó. Chúng ở đây được học Nghị quyết 12 càng thêm tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhưng cũng thấy rõ trách nhiệm của mỗi người dân ở miền Bắc đối với chiến trường miền Nam…”.

Đáng trân trọng, những bức thư ông Bá viết cho vợ không có dòng nào nhắc đến nỗi khó khăn nguy hiểm ở chiến trường. Thư bà Tiệng gửi cho chồng không có lá thư nào than thở về nỗi lo “cơm áo gạo tiền”… Tất cả đong đầy tình yêu thương và nỗi nhớ nhung, cũng như lời động viên nhau trong học tập, công tác và chiến đấu...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
"Ngày ấy phải đến với chúng ta..." | Câu chuyện thời hoa lửa