Bài viết

NGÀY GIẢI PHÓNG

Quảng Trị29/06/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm nay ông Nguyễn Công Đường đã 56 tuổi đảng, thương binh hạng 3/4, dù tuổi cao nhưng khi nói về những ngày kháng chiến thì tinh thần chiến đấu của ông vẫn hừng hực. Ông vén quần áo lên chỉ vào chân và bụng với nhiều vét sẹo, ông cho biết còn gần 30 mảnh mìn đang nằm trong người. Những mảnh nhỏ nằm trong cơ, trong thịt, việc phẫu thuật lấy ra rất khó khăn nên đành sống chung với nó. Trong chiến đấu, ông nhiều lần bị thương, có lần đạp phải mìn địch gài, ông bị đứt gân gót chân phải (gân Achilles), giờ phải đi cà nhắc, mỗi lần trái gió trở trời là đau nhức khắp người, nhất là những vết thương và phải chống nạng mới đi lại được.

Ông kể, năm 1965, lúc đấy 17 tuổi, đang học lớp 7, ông “xếp bút nghiên” xung phong đi thanh niên xung phong tham gia mở đường 15C phía Tây Thanh Hóa để bộ đội đi sang Lào vào miền Nam chiến đấu. Sau 3 năm đi thanh niên xung phong, tháng 6/1968 ông được đưa vào Sư đoàn 338 đóng quân tại huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Huấn luyện đến ngày 27/11/1968, ông cùng đồng đội hành quân trên đường Trường Sơn ròng rã nhiều tháng liền vào miền Nam chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Ông hành quân trong đoàn phiên hiệu 2074 đến Tây Ninh tháng 1/1969 bị sốt rét điều trị tại đây. Sau khi khỏi sốt rét, đến tháng 9, ông được điều về Trung đoàn 88 di chuyển sang Campuchia rồi hành quân qua “cánh đồng chó ngáp” xuống Kênh 3 thuộc tỉnh Kiến Tường (nay là tỉnh Long An) vào tháng 2/1970. Đêm hôm ấy, Trung đoàn của ông hành quân qua rừng tràm Kênh Ngang thuộc tỉnh Kiến Tường, nhưng sáng sớm hôm sau thì bị lộ, địch cho máy bay bắn hỏa tiễn và ném bom làm thiệt hại nặng nề, nên đơn vị lập tức rút sang Campuchia củng cố lực lượng.

Năm 1971, Trung đoàn của ông quay về đánh Cứ điểm Chi khu Mỹ An nằm trên Lộ 30 thuộc tỉnh Kiến Phong (nay là tỉnh Đồng Tháp). Tiêu diệt căn cứ xong, đơn vị ông ở lại ngày hôm sau đánh chống địch càn, tiêu diệt 2 tiểu đoàn ngụy. Hai ngày sau, đơn vị của ông hành quân xuống xã Mỹ Thiện, thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang) đánh tiêu diệt Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 của ngụy.

Ông kể: “Sau khi chống càn chiến thắng, người dân phấn khởi nấu cơm và thức ăn đem ra tiếp tế cho bộ đội. Cơm nắm, muối mè, trái cây, cứ 3 chú bộ độ 1 quả dưa hấu…, người dân trong nhà có thức ăn gì đều đem ra tiếp tế cho bộ đội”.

Cuối năm 1971, trong một trận đánh địch tại huyện Cái Bè, ông bị thương nên được đưa về đơn vị Hậu cần thuộc Tỉnh đội tỉnh Mỹ Tho (ở xã Tân Phước, huyện Châu Thành) để điều trị. Sau khi bình phục, ông được phân công phục vụ tại đơn vị hậu cần.

Đến năm 1972, ông cùng đồng đội chủ yếu đánh du kích tại các đồn bót của địch ở Bắc lộ 4 thuộc huyện Cai Lậy và Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho. Ông nhớ mãi cách đánh linh hoạt và thú vị có lẽ chỉ có quân đội ta mới có. Đó là buộc dây thun vào hai cây tràm, một người rút chốt quả lựu đạn và giữ chặt trong tay, một người khác ôm bụng người cầm quả lựu đạn kéo hết cỡ rồi thả quả lựu đàn cho bay vào đồn bót địch mới nổ. Rồi buộc quả đạn H12 lên máng sắt đặt trên cây Trâm hướng vào đồn bót giặc, rồi cho dây diện xuống đất và ngồi dưới gốc cây châm diện cho quả đạn bay vào đồn bót địch nổ tung mà địch không biết bắn từ đâu.

Năm 1973, quân ngụy quyền Sài Gòn lấn chiếm Ấp Bắc nên ông được đơn vị phân công tham gia đánh địch và ông bị thương nặng tại đây, được đưa về đơn vị điều trị. Cuối năm 1973, ông nhận được thông báo của đơn vị là sắp tới cán bộ lãnh đạo sẽ về họp tại Tỉnh đội Mỹ Tho chuẩn bị cho chiến dịch lớn, nên ông được cử cùng đồng đội phục vụ họp. Sau 3 ngày họp, ông được phân công đi cùng đồng chí Tỉnh đội phó là Bà 8 (lúc đấy chỉ gọi tên theo thứ) đến xã Tân bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho để làm công tác vận động dân công tải đạn, ông được phân công làm tổ trưởng tổ vận tải.

Ban đầu ông được giao phụ trách 10 người nữ dân công cùng với một nữ du kích tải đạn (vác vũ khí) từ xã Tân Bình qua sông Bảo Định, lên giữa xã Trung An và Trung Lương qua Bắc Lộ 4 để nhận vũ khí từ một đơn vị khác, sau đó đưa vũ khí về trong đêm, giấu cất tại xã Tân Bình. Khoảng cách từ điểm nhận vũ khí đến nơi cất giấu hơn 10km, tính cả đi và về khoảng hơn 20km. Hơn 10 ngày sau thì đơn vị cử một tiểu đội chuyên vận tải đạn, không sử dụng dân công địa phương nữa vì sợ bị lính chiêu hồi chỉ điểm. Việc vận chuyển vũ khí diễn ra nhiều tháng liền cho đến khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ông cho biết, ngày 30/4/1975, tin chiến thắng nhanh chóng lan khắp nơi, không chỉ bộ đội vui mừng mà người dân cũng vui khôn xiết, nhiều người chạy đi loan tin: “Miền Nam giải phóng rồi bà con ơi!”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn