NGÀY MỚI TRÊN QUÊ HƯƠNG
Đoạn hồi ký phản ánh tình hình đất nước và hoạt động cách mạng ở địa phương sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công. Trước nguy cơ tái xâm lược của thực dân Pháp và những khó khăn của chính quyền cách mạng non trẻ, nhân dân làng Hương Quế tích cực tham gia xây dựng chính quyền mới, phát triển các phong trào như bình dân học vụ, sản xuất, tiết kiệm và tổ chức lực lượng tự vệ. Tác giả được giao nhiều nhiệm vụ trong chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương, sau đó trở thành chính trị viên Đại độ
Cách mạng Tháng 8 thành công, đỉnh lũ của lòng dâng tràn bờ. Chính quyền công nông non trẻ đứng trước những khó khăn vô cùng và thử thách quyết liệt.
Ở miền Bắc nạn đói còn hoành hành, do sự cướp phá, vơ vét của giặc Pháp và Nhật, do vỡ đê mất mùa năm 1945 hai triệu người chết đói, sức dân cùng kiệt. Trước những khó khăn dồn dập đó, quân Tưởng Giới Thạch lại tràn vào nước ta, kéo theo bọn tay sai phá hoại, lật đổ - bọn tàn quân Pháp trước đây chạy sang Trung Quốc trốn tránh quân Nhật, nay trở lại đán chiếm một số vùng ở biên giới. Ở miền Nam, quân đội Anh mượn tiếng giải giáp quân Nhật mở đường cho quân đội Pháp cướp lại nước ta. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, sau khi có quân viện từ Pháp sang, chúng mở rộng địa bàn lấn chiếm các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ, Nam Trung Bộ. Trước tình hình đó, ngày 26 tháng 9 năm 1945, qua đài phát thanh, Bác Hồ ra lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ anh dũng kháng chiến chống Pháp. Đáp lời kêu gọi của Bác, quân và dân Mam Bộ kiên quyết nổ súng đánh trả quân Pháp, thực hiện quyền dân tộc bị áp bức đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Khi nhận được tin này, nhân dân và tự vệ làng Hương Quế tổ chức mitting ủng hộ nhân dân Nam Bộ đánh Pháp. Cuộc mitting biến thành cuộc tuần hành biểu dương lực lượn, hô vang khẩu hiệu “Đả đảo thực dân Pháp”, đồng ca bài “Cùng nhau đi hồng binh”, “Diệt phát xít”. Tiếng ca hùng tráng vang lên xao động cả một vùng quê. Sau hai bài hành khúc đó, anh em lực lượng tự vệ Hương Quế đồng ca bài “Ca ngợi Hồ Chủ tịch”, một bài ca mang hồn sông núi thiêng liêng làm rung cảm lòng tôi đến như vậy. Từ ngày khởi nghĩa giành hành quân về tay nhân dân đến nay, người dân quê tôi ai cũng được hưởng quyền lợi của chế độ mới. Khí thế hăng hái sục sôi như ngày khởi nghĩa. Sau diễu hành, anh chị em thanh niên tỏa về các thôn xóm cắt khẩu hiệu, dán băng rôn. Khẩu hiệu thì cắt bằng giấy ngũ sắc, băng rôn thì dùng tấm vải ta ngang năm tấc, dài tám hay mười mét, hay lấy tấm buồm ghe rọc ra dán khẩu hiệu căng lên làm cổng chào, cổng chợ, kết hoa treo đèn. Đền lúc này được thắp bằng dầu phụng, dầu rái, hãn hữu mới có dầu hỏa. Thế nhưng ban đêm cổng làng sáng rực ánh đèn.
Tháng 10 năm 1945, cán bộ chính quyền làng Hương Quế quê tôi vui mừng học tâp thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lời thư của Bác gần gũi thân thiết. Bác dặn: “Chúng ta phải hiểu rằng các cơ quan của Chính phủ, từ toàn quốc đến các làng đều là đầy tớ trung thành của nhân dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân chứ không phải để đè đầu dân như trong thời dưới quyền thống trị của Pháp - Nhật. Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”. Trong thư Bác còn dặn: “Những iệc gì đã trót sai rồi phải hết sức sửa chữa. Vì lợi ích của dân tộc, vì lợi ích của nước nhà… chúng ta phải ghi sâu những từ công minh chính trực vào lòng. Mong các bạn tiến bộ”. Từ dấy Chính quyền làng Hương Quế được củng cố, phát triển một bước về chất trong nhiệm vụ phục vụ nhân dân, gây được niềm tin yêu, đoàn kết trong thôn xóm. Cũng từ sau cuộc mitting ủng hộ đồng bào Nam Bộ, vấn đề mổi lên của làng Hương Quế lúc này là học tập và huấn luyện quân sự. Các lực lượng Thanh niên, phụ nữ, nông dân, lão thành, thiếu nhi được tập hượp và sinh hoạt theo đoàn thể. Việt Minh kêu gọi nhân dân không phân biệt tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị tự nguyện tham gia vào hàng ngũ “Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam” tức là (Hội Liên Việt). Đảng Cộng sản hướng mục đích của họ vào công cuộc xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và phú cường. Mọi người dân trong làng Hương Quế từ đó có đoàn thể để hội họp, học tập, phát triển và hiến kế, để chính sách của Đảng và chính quyền cách mạng đi sâu vào đời sống nhân dân. Bốn chữ nam nữ bình đẳng được giới phụ nữ trong làng phát huy mạnh mẽ nhất. Không một cuộc họp nào thiếu văng chị em, tình nghĩa làng xóm được thắt chặt, những tập tục lạc hậu trong cưới hỏi, ma chay, không phù họp với hoàn cảnh kinh tế của nhân dân bị xóa bỏ. Phong trào bình dân học vụ xóa nạn mù chữ trong thanh thiếu niên từ 10 tuổi trở lên được vận động đi học. Khẩu hiệu lúc này là Diệt giặc đói và giặc dốt được chăng dán ở khắp đầu làng, cuối xóm. Phong trào liên tục được kiểm tra ở những nơi công cộng như chợ búa, hội họp. Người mới học thì phải đọc suông bảng chữ cái, người học lâu phải đọc thông bản chữ ghép, tức là vần đôi, mới được vào chợ, hay đi xem hát bội. Chính công tác này đã giúp cho việc họ trong dân được đà phát triển. Phong trào thi đua sản xuất nông nghiệp, các nghề trồng dâu, nuôi tằm ươm tơ dệt lụa, các dịch vụ nghề rèn, nghề mộc được khôi phục. Tôi hình dung như một “công trường” sản xuất ngành nghè từ tỉnh tới huyện và đến làng tôi như lan tỏa sức sống tấp nập. Còn phong trào “hũ gạo đồng tâm tiết kiệm”, “hũ gạo nuôi quân” được phát động thành nề nếp trong dân: hũ gạo tiết kiệm là 10 ngày, gia đình nghỉ ăn một bữa lấy gạo bỏ vào hũ; hũ gạo nuôi quân là mỗi bữa cơm, người đong gạo tự hốt bỏ vào hũ một nắm, đến 20 ngày sau, hai hũ gạo được trút ra, chủ nhà tự giác đông đếm từng hũ được bao nhiêu gạo thì ghi vào sổ và đổ gạo đó ra ăn; cứ như thế xoay vần, để khi cán bộ đến thu giở sổ biết số lượng mà đóng. Việc làm đó, người thu cũng như chủ nhà đều tự giác. Gạo tiết kiệm dùng để cứu đói đồng bào ở vùng thiên tai, còn gạo nuôi quân đưa về lực lượng tự vệ của làng. Trong thời gian này, "Phong trào đời sống mới, phong trào người Việt Nam mới” ra đời đẩy lùi tệ nạn trọng nam khinh nữ, ăn sâu vào đời sống của các tầng lớp nhân dân từ bao đời nay được xóa bỏ. Tôi còn nhớ bài hát: “Đời sống mới mới mới, cái chi cũng mới mới mới, người Việt Nam ta vẫy vùng bốn phương…” được lực lượng thanh niên nam, nữ hát vang hàng ngày, và họ sinh hoạt rất tự nhiên, ai cũng hăng hái tham gia phong trào. Tổng Xuân Phú có 20 làng thì đã có 1000 thanh niên nam, nữ đăng kí vào lực lượng tự vệ, và được Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời tổng Xuân Phú biên chế thành 2 chi đội. Chi đội 1 gọi là chi đội Hướng Phiên (tên anh Lê Phiên ở làng Mông Lãnh) do đồng chí Võ Sĩ Bình, quê ở Bà Rén làm chi đội trưởng, tôi được cấp tên phân công kiêm nhiệm vụ chính trị viên chi đội này. Còn chi đội 2 tức chi đội Quang Cận, do đồng chí Nguyễn Sanh Hương, ở làng Hương Lư làm chi đội trưởng và đồng chí Lê Nho Đào ở làng Quế Trạch làm chính trị viên. Các chi đội được biên chế thành đại đội, trung đội, tiểu đội, tổ 3 người và được trang bị vũ khí thô sơ như gậy tầm vông, gươm giáo, mã tấu, được huấn luyện võ thuật gồm những thế tân công đối phương. Cả tổng sôi nổi trong công tác quân sự. Trên cương vị là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời làng Hương Quế, kiêm chính trị viên chi đội tự vệ, tôi làm việc hăng say, sáng làm công tác ở Ủy ban, chiều tham gia lãnh đạo chi đội tự vệ hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện với anh em. Tối về, tôi còn tranh thủ đi kiểm tra các lớp học bình dân học vụ. Các đồng chí công tác chung với tôi ai cũng muốn vượt lên phía trước, nên mặc dù tôi làm việc đêm ngày say sưa như thế nhưng vẫn chưa thấy thỏa mãn.
Tôi còn nhớ trong đợt học tập bầu cử Quốc hội khóa I vào ngày 6 tháng 1 năm 1946 - đây có thể xem là cuộc diễn tập ý chí toàn dân lần thứ 2 sau khởi nghĩa Tháng 8 thắng lợi.[58] Người người nô nức chờ đợi đến ngày đi làm nhiệm vụ người công dân của nước Việt Nam mới, tôi nhớ ở làng tôi trước ngày bàu cử, ai nấy đều học thuộc lòng bốn câu ghi sẵn để khi bỏ phiếu nhữưg người có, có tài, được trên tín nhiệm giới thiệu:
“Tổng tuyển cử đã đến rồi
Vì quyền, vì lợi mấy lời nhớ ghi
Sa, Nhỉ, Tống, Bằng, Tri, Kỉ, Huệ
Diêu, Thao, Thự, Viện, Hiến, Thanh, Bôi”(1)
Cuộc bầu cử ngày 6 tháng 1 năm 1946 được tiến hành thắng lợi. Làng Hương Quế quê tôi có đến 99% số người tham gia đi bầu, họ vui sướng phát huy quyền dân chủ. Đây là cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên của một đất nước độc lập, vì dân, do dân mà suốt mấy mươi thế kỉ trôi qua trong lịch sử dân tộc mới có được sự đổi đời mới mẻ này. Nguồn tin thắng lợi của cuộc bầu cử cho biết: trong toàn quốc có đến 90% cử tri đi bầu cử, 333 đại biểu Quốc hội trúng cử, trong đó có 10 đại biểu là phụ nữ, 14 đại biểu ở Quảng Nam đều trúng cử. Quốc hội họp phiên đầu tiên tiến hành soạn thảo và thông qua hiến pháp đầu tiên, xác định quyền làm chủ đất nước và các quyền tự do dân chủ của nhân dân.[59]
Vào tháng 3 năm 1946, cũng lần đầu tiên tổng Xuân Phú ó một Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời của 20 làng, hiệp thương chia thành 6 xã (như vậy là 103 làng của 5 tổng thuộc huyện Quế Sơn đã họp thành 25 xã(2), và có lẽ từ đây ra đời danh từ xã trên địa bàn Quế Sơn (?). Vào thời gian này tôi được huyện ủy quyết định làm Trưởng an quân sự, Phó bí thư chi bộ xã Liên Hoan (Liên Hoan tức là tên cụ Nguyễn Hoan, một nghĩa sĩ người làng Hương Quế, tham gia phong trào Nghĩa hội 1885 bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo và hi sinh trong nhà lao) và UBNDCMLT được đổi thành Ủy ban kháng chiến hành chinh do ông Vũ Quỳnh làm chủ tịch (Thời đánh Mĩ ông Vũ Quỳnh là Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng Tỉnh Quảng Nam).
Trong suốt năm 1946, nhân dân xã Liên Hoan thực hiện khẩu hiệu: Kháng chiến kiến quốc, vừa chăm lo phát triển kinh tế làm cho dân đủ ăn, vừa lo xây dựng mặt trận Việt Minh vững mạnh, củng cố các đoàn thể, tuyển quân xây dựng lực lượng ba thứ quân (dân quân du kích, bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực). Huyện Quế Sơn đã thành lập một trung đội vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan huyện, từ đơn vị này đến năm 1947 huyện thành lập đội biệt động mang tên Phạm Uyển (Phạm Uyển là bi thư Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của làng Nghi Hạ, bị mật thám bắt và đã hi sinh trong tù để bảo vệ cơ sở Đảng ở địa phương). Lúc đầu đại đội có 65 đồng chí, trong đó ban chỉ huy đại đội có 2 người: Đồng chí Nguyễn Đình Phụng, đại đội trưởng, đồng chí Võ Thanh Bình đại đội phó. Đại đội biệt động Phạm Uyển ban đầu được trang bị 10 khẩu súng trường, một khẩu tiểu liên và một khẩu súng lục. Số chiến sĩ còn lại được trang bị mã tấu, gươm giáo. Hằng ngày đại đội được huấn luyện chiến thuật, võ thuật và các động tác kĩ thuật cho nhuần nhuyễn.
Tình hình càng về cuối năm càng sôi động. Hành động xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp càng lộ rõ. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và BácHồ phát động cuộc kháng chiến trong cả nước. Trong buổi đầu kháng chiến, nước ta bị bao vây từ bốn phía. Chính quyền của ta còn non trẻ, lực lượng vũ trang của ta mới xây dựng trang bị kém, kinh nghiệm chiến đấu hạn chế, kinh tế của ta nghèo nàn lạc hậu. Mặc dầu vậy, cái ta có là một dân tộc đoàn kết, có chính nghĩa và tinh thần yêu nước chống ngoại xâm lên cao. Dân tộc ta được sự lãnh đạo của Đảng, có đường lối chiến tranh nhân dân, có sách lược mềm dẻo được nhân dân tin yêu bảo vệ. Đó là thế tất thắng mà quân địch không có được. Trong gần hai tháng chiến đấu, quân va dân thủ đô đã đánh 200 trận tiêu diệt nhiều tên địch. Hồi đó ở quê tôi không có điện đài nên tin tức đều rất chậm, dù tính thời sự không còn, nhưng mỗi khi có một thông báo về tình hình chiến sự từ trên gởi xuống, thì bầu không khí trong xã bỗng xôn xao sôi động, báo cho nhau biết về chiến thắng của Cách mạng.
| Xã Liên Hoan chọn sân vận động đình làng Hương Quế lam thao trường huấn luyện quân sự cho lực lượng tự vệ xã. Từ bình minh đến xế chiều, ở đây luôn rộn ràng tiếng hô khẩu lệnh, tiếng trẻ con reo hò mừng các anh chị tập luyện quân sự. Tết năm Đinh Hợi (1947) lại về tên quê hương đất nước. Một mùa xuân Cách mạng chuyển thế và lực sang giai đoạn phản công quân Pháp. Mùa xuân của đất trời, vạn vật cỏ hoa quê tôi như xanh hơn. Con sông Li Li mùa này nước vẫn đầy con đập Hương An, theo những con mương đổ về các cánh đồng làm cho sắc lúa xuân mướt xanh, cây cỏ tốt tươi hơn. Cái tết độc lập thanh bình, chan hòa tình làng nghĩa xóm, quân dân đoàn kết một lòng dưới màu cơ đỏ sao vàng của Tổ uốc, thật xúc động vô cùng. Chim tu hú cất tiếng tiễn đưa màu gió lạnh, cây gạo ven sông Bà Rén nở xòe những chùm đỏ ối. Cùng trong cảnh sắc thời gian ấy, tôi nhận được quyết định cấp trên bàn giao công tác quân sự, công tác Đảng của xã Liên Hoan trong thời gian sớm nhất để đi nhận nhiệm vụ mới. Thời buổi cách mạng nên việc gì cũng nhanh, chính xác và tự giác. Trước khi đi về trên, tôi đến từng làng (cũ) từng thôn để từ giã bà con, những cán bộ đoàn thể đã gắn bó công tác cùng tôi sau ngày Cách mạng Tháng tám thành công. Nhân dân xã Liên Hoan nhất là bà con làng Hương Quế, Đồng Tràm nói lời tiễn đưa tôi đi “chân cứng đá mềm”. Có lẽ đây là lần đầu tiên,tôi ý thức được nghĩa đồng bào bao la mà ấm áp như lòng mẹ. Tình cảm lưu luyến đó dồn nén lại trong tôi khi anh Đinh Xuân Thưởng, Bí thư chi bộ nói: - Tôi với đồng chí tình sâu nghĩa nặng, gắn bó, từ sinh ra đến trưởng thành, từ ngày quê ta giành chính quyền, giữ chính quyền đến ngày vững mạnh hôm nay, khi xa nơi “cắt rốn chôn nhau” đầy kỉ niệm này không lưu luyến sao được. Nhưng vì yêu cùa của Đảng, vì trách nhiệm trước nhân dân chúng ta đành phải chia tay! Tôi về đến nhà, anh chị và cha tôi đều có mặt trong mâm cơm “đoàn viên”, tôi nói: - Xin cha thông cảm cho con, từ nay việc thờ cúng ông bà và mẹ có anh cả, con ra đi làm nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao. Còn anh Sâm và anh Lộc cố gắng hoàn thành công tác địa phương giao, em mong hai anh được vậy. Cha tôi run run, ông nói: - Tư khi con bị bắt ở tù, cha đêm ngày suy nghĩ, lúc con trở về cha luôn để ý, biết con là người có chí nên cha không ngăn con hoạt động cách mạng, nay con ra đi, cha chúc cho con “chân chứng đá mềm” mong con trở thành người cán bộ tối, giữ gìn truyền thống tổ tiên và dòng họ nhà ta. Lòng tôi mềm ra trước cảnh chia li. Đến hôm nay nhiều khi hồi tưởng lại dĩ vãng, thấy còn nặng trĩu bên lòng trước những mong mỏi của cha và các anh chị tôi. Về đến văn phòng Huyện ủy, tôi được phân công làm chính trị viên đại đội Phạm Uyển. Khi tôi về đại đội đã có 90 người, do anh Nguyễn Tấn Châu làm đại đội trưởng, anh Võ Thanh Bình làm đại đội phó. Thế là từ tháng 3 năm 1947, tôi trở thành chính trị viên đại đội địa phương huyện Quế Sơn. Lúc đó bộ đội ta có nhiều tên gọi: Vệ quốc quân, Vệ quốc đoàn. Các danh từ ấy tồn tại trong thời gian lịch sử nhất định, nhưng có một danh từ tồn tại mãi đến ngày nay đó là: Bộ đội Cụ Hồ. Như vậy, đường vào quân đội nhân dân của tôi là được Huyện ủy điều động từ Trưởng ban quân sự, Phó Bí thư chi bộ xã Liên Hoan lên nhận công tác chính trị viên đại đội Phạm Uyển, bộ đội địa phương huyện Quế Sơn, không đi qua con đường nhập ngũ từ chiến sĩ lên. Nhiệm vụ của Đại đội Phạm Uyển là học tập, rèn luyện kĩ thuật, chiến thuật hành quân ban đêm, hành quân đường dài, làm công tác dân vận, bổ sung tân binh cho đủ 120 người và tiếp tục huấn luyện, giáo dục, giác ngộ chính trị, học tập những tài liệu “Trường kì kháng chiến, nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh, để xây dựng quan điểm, ý chí của người nhân dân cách mạng sẵn sàng đánh địch trong bất kì tình huống nào. Cuối tháng 3 năm 1947, quân Pháp ở Đà Nẵng đưa quân đánh chiếm Hội An, Điện Bàn, Đại Lộc, chiếm đường 100 (609) đi Ái Nghĩa. Đại đội Phạm Uyển cắt hai trung đội phối hợp với dân quân du kích các xã ven đường 100 bám đánh địch để rút kinh nghiệm thực tế. Sau thời gian củng cố đồn trại, ngày 16 tháng 6 quân Pháp vượt sông Thu Bồn đánh chiếm Duy Xuyên. Cánh quân thứ hai của địch theo sông Câu Lâu đánh chiếm Bàn Thạch, Triều Châu, Long Châu. Cánh quân thứ ba của địch từ Vĩnh Điện theo quốc lộ số 1 vào chiếm Câu Lâu, Nam Phước, Bà Rén, bị trung đoàn 93 và quân du kích các xã Dưỡng Xuyên, Phú Mĩ, Xuân Trà, Tam Hiệp, Liên Hoan… tổ chức phòng thủ phía nam sông Bà Rén, chiến đấu ngăn chặn âm mưu mở rộng địa bàn chiếm đóng của địch, buộc chúng phải dừng chân và đóng đồn tại phía nam đầu cầu Bà Rén nằm trên quốc lộ 1. Đến ngày 26 tháng 6 năm 1947, quân Pháp tiến hành một cuộc tiến công càn quét vào vùng tự do của Quế Sơn, chúng tiến quân qua các xã Dưỡng Xuân, Xuân Trà, Tam Hiệp, Phú Mĩ… sau một mũi quân gồm một đại đội lê dương và một đại đội “Việt binh đoàn” tiến từ đồn Bà Rén đi theo đường số 1 đến mộc Bài rồi dừng lại, chúng cho bọn pháo binh kéo pháo đi theo cuộc càn này, trận địa pháo đứng lại Bà Rén bắn dọc đường từ Mộc Bài đến Hươngg An, dọn đường cho mũi quân lê dương tiến vào Hương An. Bộ binh đi đến Mộc Bài dừng lại, chúng đốt nhà cướp của, bắn giết trâu bò tại khu vực này. Trong khi đó một mũi quân lê dương thứ ba, gồm hai đại đội và một trung đội quân ngụy từ Núi Đất, làng Mậu Hòa huyện Duy Xuyên, theo đường xe lửa tiến vào An Lộc, đến ngã tư Phước Chỉ thì dừng lại, không đi xuống đường 105 mà chúng đi băng qua núi Cây Da Dù rồi bí mật men theo rìa núi Quế cắt đường đi xuống Gò Rang. |


