Cựu Thanh niên xung phong

Ngày người lính không trở về

Có những ngày tháng đã đi qua hơn nửa thế kỷ nhưng mỗi khi nhắc lại, người ta vẫn cảm thấy như nó vừa xảy ra hôm qua. Với gia đình tôi, ngày 8 tháng 12 năm 1970 là một ngày như thế. Đó là ngày chú tôi, liệt sĩ Phan Văn Quyền, đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Chú sinh tháng 3 năm 1941, là con ông Phan Văn Tình và bà Đặng Thị Trân, quê ở Giai Lạc, Nghệ An. Khi chú ra đi, tôi chưa có mặt trên đời, nên suốt cuộc đời mình, tôi chưa từng được nhìn thấy khuôn mặt, nghe giọng nói hay được một lần gọi tiếng “chú” trước mặt người thân yêu ấy. Hình ảnh chú trong tôi chỉ được ghép lại từ những câu chuyện cha kể, từ những gì gia đình còn lưu giữ và đặc biệt là từ tờ giấy báo tử đã cũ theo thời gian.

Phú Thọ10/08/2026Đoàn Xã Lạc Dương (Lạc Dương)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 2 năm 1960, chú nhập ngũ khi tuổi đời còn rất trẻ. Trước đó, chú từng làm công nhân nông trường, có một cuộc sống bình dị như bao thanh niên cùng thời. Nhưng khi đất nước cần, chú rời công việc, rời gia đình để bước vào quân ngũ. Sau những ngày tháng huấn luyện, chú rất muốn được vào B để trực tiếp chiến đấu với quân Mỹ, nhưng nhiệm vụ được giao lại đưa chú về đơn vị phòng không bảo vệ vùng trời quê hương. Người lính không phải lúc nào cũng được lựa chọn nơi mình muốn đến. Khi nhiệm vụ đã được phân công, chú cùng đồng đội nhận lấy trách nhiệm của mình. Trong những năm tháng ấy, chú từng bước trưởng thành trong quân ngũ, được kết nạp Đảng tháng 7 năm 1961 và trở thành đảng viên chính thức tháng 7 năm 1962. Đến khi hy sinh, chú mang quân hàm Trung úy, giữ chức vụ chính trị viên đại đội.

Nhưng cuộc đời người lính ấy không chỉ có những ngày thao trường, trận địa và nhiệm vụ. Trong một lần được về phép, chú gặp mự tôi, một cô gái ở làng bên. Mự khi ấy tham gia phong trào “ba đảm đang”, đang làm việc ngoài đồng. Một câu hát Ví giặm ghẹo đùa giữa cô thôn nữ và người lính trở về quê đã trở thành cái duyên đưa hai người đến với nhau. Giữa những năm tháng chiến tranh, tình yêu của họ đến thật giản dị. Không có nhiều thời gian để tìm hiểu, không có những cuộc hẹn dài ngày, bởi người lính biết rằng kỳ phép rồi sẽ kết thúc và mình phải trở lại đơn vị. Nhưng tình cảm đã đủ để họ quyết định gắn bó cuộc đời. Hai người tổ chức một đám cưới giản dị trong sự chúc phúc của gia đình nội ngoại. Kẹo bánh, trà thuốc và những lời chúc mừng đã tạo nên một ngày vui hiếm hoi giữa những năm tháng chiến tranh. Có lẽ đó là khoảng thời gian hạnh phúc mà chú và mự có được trước khi chiến tranh lại đưa họ về hai phía của nỗi nhớ.

Chưa kịp bén hơi nhau, chú đã được đơn vị gọi trở lại. Ở quê nhà, mự tiếp tục cuộc sống của một người vợ lính; còn chú trở về với nhiệm vụ phòng không. Những năm ấy, miền Bắc phải đối mặt với những đợt đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ. Người lính ngoài đơn vị phải vững vàng trước bom đạn, còn người thân ở quê nhà chỉ biết chờ đợi tin tức. Mỗi lần người lính trở về phép là một lần gia đình được đoàn tụ, nhưng sau mỗi lần chia tay lại là những ngày dài không biết bao giờ mới gặp lại. Chú tôi cũng đi qua những ngày tháng như thế, tiếp tục cùng đồng đội thực hiện nhiệm vụ được giao, trong khi phía sau là cha mẹ, anh em và người vợ trẻ đang mong ngóng.

Rồi ngày 8 tháng 12 năm 1970 đến. Theo giấy báo tử, chú hy sinh tại chiến trường phía Nam, trong trường hợp chiến đấu với máy bay Mỹ. Chú ra đi khi mới ba mươi tuổi. Đối với gia đình, đó không chỉ là ngày một người lính hy sinh mà còn là ngày một người con, một người em và một người chồng mãi mãi không trở về. Tờ giấy báo tử sau đó trở thành một trong những kỷ vật quý giá nhất của gia đình. Trên tờ giấy có tên chú, đơn vị d14 f4 QK4, chức vụ Trung úy, chính trị viên đại đội, quê quán Giai Lạc và ngày hy sinh. Giấy báo tử được lập ngày 10 tháng 12 năm 1972, thay mặt Ban Chỉ huy d14 f4 ký tên Phan Văn Minh. Những dòng chữ ấy ngắn gọn, nhưng đối với những người ở lại, chúng chứa đựng một nỗi đau rất dài.

Tôi thường nghĩ, nếu ngày ấy chiến tranh không xảy ra, cuộc đời chú có lẽ đã khác. Người thanh niên từng làm công nhân nông trường có thể đã trở về quê sau những năm quân ngũ. Người chồng trẻ có thể đã cùng mự đi qua những mùa lúa, cùng dựng xây một gia đình và sống những ngày bình thường như bao người khác. Nhưng chiến tranh không cho chú cơ hội ấy. Cuộc đời chú dừng lại ở tuổi ba mươi, còn những người ở lại phải mang theo ký ức về chú qua những năm tháng tiếp theo. Với ông bà, đó là người con đã đi xa. Với cha tôi, đó là người em trai không trở về. Với mự, đó là người chồng mà cuộc sống hôn nhân vừa bắt đầu đã phải dang dở. Còn với tôi, chú là một người thân mà cả đời chỉ có thể biết qua lời kể và những kỷ vật gia đình gìn giữ.

Nhiều năm sau, khi nhìn lại tờ giấy báo tử đã hoen ố, tôi càng hiểu rằng một con người không thể chỉ được nhớ bằng ngày hy sinh. Trước khi trở thành liệt sĩ, chú đã từng là một người con của quê hương Giai Lạc, từng là người công nhân nông trường, từng là người lính trẻ nhập ngũ năm 1960, từng phấn đấu trong quân ngũ, từng có một tình yêu bắt đầu từ câu hát Ví giặm và từng có một ngày cưới giản dị với người con gái mình thương. Những điều ấy làm nên một cuộc đời, một cuộc đời đã bị chiến tranh cắt ngang nhưng không thể xóa khỏi ký ức gia đình.

Tôi chưa từng gặp chú, nhưng càng lớn tôi càng cảm nhận rõ sự hiện diện của chú trong gia đình qua những kỷ vật được truyền lại từ ông tôi đến cha tôi rồi đến thế hệ chúng tôi. Tờ giấy báo tử đã cũ, những dòng chữ có thể phai theo năm tháng, nhưng cái tên Phan Văn Quyền vẫn còn đó. Và mỗi khi tên chú được nhắc lại, tôi lại hình dung một người lính trẻ đã bước qua cổng làng, mang theo tuổi thanh xuân và lời hẹn ngày trở về. Chú đã không trở về bằng bước chân của một người lính sau chiến tranh, nhưng chú vẫn trở về trong ký ức của gia đình, trong những câu chuyện được kể lại và trong sự biết ơn của những thế hệ hôm nay. Có lẽ đó cũng là cách một người đã hy sinh tiếp tục hiện diện: không phải bằng một cuộc đoàn tụ mà bằng ký ức không bao giờ mất đi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn