Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Ngày ra quân và nỗi nhớ biên cương (1983)

Lào Cai11/12/2025Phàn Văn Bình (Đoàn xã Cốc Lầu)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những ngày đầu thu năm 1983, gió trên Cốc Lầu đổi khác. Vẫn là cái lạnh quen thuộc của vùng cao, nhưng trong không khí có gì đó man mác, như thể núi rừng đang chuẩn bị bước sang một mùa mới.

Đồn biên phòng vẫn sinh hoạt đều đặn: sáng chào cờ, trưa báo cáo, chiều luyện tập, tối trực gác. Nhưng bên cạnh tiếng kẻng, tiếng hô, tiếng máy điện thoại “rè rè” quen thuộc… còn có thêm những tiếng thì thầm:

– Hình như năm nay sẽ có đợt cho ra quân nhiều hơn…
– Nghe bảo đơn vị mình có mấy đồng chí nhập ngũ từ 1979, đủ thời gian rồi…

Nghe đến chữ “ra quân”, lòng tôi thoáng giật. Tôi nhập ngũ ngày 5/11/1979. Tính ra, đến giờ cũng đã gần tròn bốn năm. Bốn năm – một quãng dài hơn cả thời đi học cấp hai của tôi.

Tờ danh sách dán trên bảng tin

Một buổi sáng, sau khi chạy thể dục, cả đồn tập trung trước sân để chào cờ như thường lệ. Lá cờ đỏ sao vàng trên cột phấp phới trong ánh nắng sớm. Đồn trưởng Hoàng đứng trên bậc tam cấp, ánh mắt nhìn khắp một lượt đội hình.

Sau phần chào cờ, anh cầm tờ giấy, nói giọng bình thản nhưng từng từ rõ ràng:

– Hôm nay, tôi có một thông báo quan trọng. Căn cứ vào quy định của Bộ và tình hình đơn vị, Đồn Cốc Lầu sẽ tiến hành xét, đề nghị cho ra quân một số đồng chí đã hoàn thành tốt nghĩa vụ, đủ thời gian phục vụ trong quân ngũ. Danh sách cụ thể sẽ được niêm yết ở bảng tin sau buổi chào cờ. Các đồng chí có tên trong danh sách, chiều lên phòng chính trị làm việc.

Anh ngừng lại, nhìn sâu vào đội hình:

– Ra quân không có nghĩa là hết trách nhiệm. Các đồng chí sẽ trở về địa phương, tiếp tục là lực lượng dự bị, là chỗ dựa cho chính quyền, cho nhân dân. Đồn hy vọng dù ở đâu, các đồng chí cũng giữ được phẩm chất người lính biên phòng.

Tiếng “rõ!” vang lên, nhưng khác mọi lần – hôm nay trong đó lẫn cả sự chờ đợi, hồi hộp, và cả… lo lắng.

Tan buổi chào cờ, cả đồn như một đàn ong vỡ tổ, xôn xao kéo về phía bảng tin. Tôi cũng hòa vào dòng người. Trên tấm bảng gỗ, một tờ giấy trắng đã được dán lên, phấp phới trong gió.

Khánh huých tay tôi:

– Mày lên đọc xem có tên không, tao đứng dưới… nghe tim đập hộ.

Tôi nuốt nước bọt, bước lại gần. Tên từng người hiện ra, nét chữ nắn nót của anh Hòa chính trị viên.

“Trần Văn… Cường…” – tôi lướt mắt qua. Không phải. Rồi…

“Trần Văn Cương – Chiến sĩ thông tin, Đồn Cốc Lầu – Nhập ngũ 05/11/1979 – Đề nghị ra quân đợt 20/9/1983.”

Tôi đứng khựng lại một giây. Hàng chữ như nhòe đi trước mắt. Khánh, không chịu nổi, hét lên:

– Có tên mày không?

– Có… – tôi bật thành tiếng, không rõ là vui hay buồn.

Hường – mấy tháng trước được điều lên đồn khác – không có ở đây để xoa đầu tôi như hồi mới nhập ngũ. Páo thì đang đứng phía sau lưng, giọng trầm:

– Tao không thấy tên tao. Chắc còn ở lại thêm mấy năm nữa với núi.

Tôi quay lại, thấy mắt Páo thoáng buồn nhưng môi vẫn cười:

– Mày về quê nhớ kể với người dưới xuôi là trên này đẹp lắm nhé. Đừng có nói toàn sương với đá, người ta không dám lên.

Anh Tuấn có tên trong danh sách ra quân đợt sau, không phải đợt này. Anh vỗ vai tôi, giọng nửa đùa nửa thật:

– Thế là sắp được về với biển rồi, đồng chí Nghĩa Hưng. Về đó nhớ tắm biển hộ tôi vài lần. Ở trên này, nhìn toàn núi, chẳng biết biển mặn thế nào.

Tôi cười, nhưng trong lòng nặng trĩu. Mấy năm nay, Cốc Lầu là “nhà” của tôi. Giờ bỗng nhiên biết rằng vài tuần nữa mình sẽ rời nơi này, tự dưng thấy hụt hẫng như sắp phải chia tay một phần thân thể.

Buổi làm việc với chính trị viên

Chiều hôm đó, tôi lên phòng chính trị theo giấy gọi. Trong phòng, anh Hòa đang ngồi sau chiếc bàn gỗ, bên cạnh có xấp giấy tờ, con dấu đỏ. Trên tường treo ảnh Bác Hồ, bên dưới là khẩu hiệu “Sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc”.

– Vào đi, Cương – anh Hòa ngẩng lên, cười – Ngồi đi.

Tôi ngồi xuống ghế, thấy đôi tay mình hơi khô lại. Anh Hòa lật vài trang hồ sơ:

– Đồng chí nhập ngũ tháng 11/1979, lúc đó mới mười bảy tuổi rưỡi, đúng không?

– Báo cáo, đúng ạ.

– Hơn ba năm ở Cốc Lầu, tham gia phụ trách thông tin, đã được tặng… – anh nhìn vào giấy – … hai giấy khen của Đồn, một giấy khen của Huyện đội, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong các đợt tăng cường lên chốt, tuyến Tây… Không bị kỷ luật lần nào. Tự đánh giá thế nào về thời gian quân ngũ của mình?

Câu hỏi làm tôi chững lại. Tôi nghĩ vài giây rồi trả lời:

– Báo cáo, lúc mới lên, em nhát lắm, sợ pháo, sợ leo dốc. Nhưng dần dần em thấy mình bớt sợ. Em biết giữ máy, giữ đường dây, không để thông tin đứt đoạn. Cũng… biết thương đồng đội, thương bà con vùng cao hơn.

Anh Hòa gật gù:

– Tự đánh giá như thế là thật. Cấp trên cũng có đánh giá tốt về đồng chí. Đợt này, đơn vị xét cho ra quân là để đồng chí về địa phương, xây dựng cuộc sống mới. Đất nước đang khó khăn, ở miền xuôi cần nhiều lao động. Đồng chí có mong muốn gì sau khi ra quân không?

Tôi ngập ngừng:

– Em… cũng chưa biết nữa ạ. Về quê chắc làm ruộng với bố mẹ. Nếu có cơ hội, em muốn đi làm ở công trình, hoặc học thêm chữ, đỡ thiệt thòi.

Anh Hòa cười hiền:

– Nghĩ thế là tốt. Nhưng dù làm gì, cũng phải nhớ anh là bộ đội biên phòng. Về quê, tránh xa những cái xấu, giữ cái lưng thẳng, cái đầu không cúi trước điều sai. Đó là điều đơn vị mong.

Anh đẩy về phía tôi mấy tờ giấy:

– Đây là sơ yếu lý lịch quân nhân, quyết định dự kiến ra quân. Đọc qua, nếu thấy sai chỗ nào thì bảo tôi sửa, rồi ký vào.

Tôi cầm tờ giấy, đọc thấy cả đời mình mấy năm qua gói trong đó: tên, tuổi, quê quán, ngày nhập ngũ, đơn vị, thành tích, khen thưởng. Ở mục “Đánh giá chung”, dòng chữ của anh Hòa: “Đồng chí Trần Văn Cương là chiến sĩ thông tin có tinh thần trách nhiệm, chịu khó, khiêm tốn, sống hòa đồng với đồng đội, chấp hành tốt kỷ luật.”

Tôi bỗng thấy mắt mình cay cay. Mọi khó khăn, trận pháo, lần kéo dây trong mưa, trận đụng độ với phỉ… bỗng thu lại thành mấy chữ trên giấy.

Tôi ký tên. Nét bút hơi run, nhưng rõ ràng: “Trần Văn Cương”.

Trước khi tôi đứng lên, anh Hòa hỏi thêm:

– Cương này, nếu bây giờ Bộ yêu cầu ở lại thêm, đồng chí có sẵn sàng không?

Câu hỏi bất ngờ quá. Tôi im một chút rồi nói thật:

– Báo cáo, em… vẫn sẵn sàng, nếu Tổ quốc cần. Nhưng nếu được về, em nghĩ bố mẹ em mừng lắm. Nên… em xin chấp hành theo phân công của đơn vị.

Anh Hòa mỉm cười hài lòng:

– Tôi hỏi vậy để biết lòng cậu. Tốt. Thôi, về chuẩn bị tinh thần, vài hôm nữa sẽ có kế hoạch chia tay cụ thể.

Đếm ngược những ngày ở biên giới

Từ hôm đó, tôi bỗng đếm từng ngày ở Cốc Lầu. Mỗi buổi sáng thức dậy, nhìn ra sương mù ngoài cửa sổ, tôi tự hỏi: “Không biết mình còn được nhìn cảnh này bao nhiêu lần nữa?”

Công việc vẫn thế: kiểm tra máy, ghi nhật ký trực, kéo dây khi cần. Nhưng mỗi việc làm, tôi đều thấy như chậm lại, muốn ghi thêm vào ký ức.

Một buổi chiều, Páo rủ:

– Đi, tao dẫn mày lên cái mỏm đá trên kia, chỗ nhìn thấy cả thung lũng. Sau này về quê, khỏi bảo là chưa nhìn hết Cốc Lầu.

Chúng tôi leo lên mỏm đá mà ngày nào tôi cũng đi ngang, nhưng chưa bao giờ trèo hẳn lên đỉnh. Gió thổi mạnh. Dưới chân là đồn – những mái nhà đỏ nhỏ bé, cột ăng-ten thẳng tắp. Xa hơn nữa là những dãy núi trập trùng, rồi mờ dần trong sương.

– Đẹp quá… – tôi buột miệng.

Páo ngồi xuống bên cạnh, khoanh tay:

– Đẹp, nhưng lạnh. Nhiều khi tao cũng tự hỏi: liệu có ngày nào núi rừng này không còn tiếng súng, chỉ còn tiếng trâu bò, tiếng người gọi nhau ra nương?

Tôi thở dài:

– Chắc có. Chỉ là không biết bao giờ.

Páo lặng đi rồi chợt cười:

– Mày về, nhớ gửi cho tao cái gì từ biển nhé. Cái vỏ sò, vỏ ốc hay… mùi nước mặn cũng được.

– Ừ, tao hứa.

Tối, tôi lại trực trong phòng thông tin. Điện thoại vẫn reo, tiếng chốt báo cáo, tiếng đồn bạn gọi hỏi tình hình. Mỗi lần nhấc ống, tôi không còn run như những ngày đầu. Động tác ghi chép, trả lời, chuyển máy đã thành phản xạ. Bây giờ nghĩ đến việc rời cái bàn trực này, tự dưng thấy tay mình trống trải.

Khánh, vẫn ở đơn vị, không thuộc diện ra quân đợt này. Nó hay ngồi cạnh tôi lúc rảnh, chân vắt lên ghế:

– Ê, mày về nhớ viết thư kể xem ở quê mày có gì hay. Chứ tao cứ tưởng tượng Nam Định toàn… ruộng lúa với muối.

Tôi cười:

– Thì đúng thế. Nhưng còn biển nữa. Mày mà về chơi, tao dẫn ra biển nghịch sóng.

– Nhớ nhé. Mà mày về rồi, đừng có lấy vợ sớm quá, để tao còn có lý do mà xin phép nghỉ phép về ăn cưới.

– Dẹp! – tôi đấm nhẹ vào vai nó, nhưng trong lòng bỗng hiện ra gương mặt Lan – cô gái làng, người tôi vẫn thỉnh thoảng nhớ đến mà chẳng dám viết thư tỏ bày gì nhiều ngoài mấy dòng hỏi thăm.

Buổi lễ chia tay ở sân đồn

Ngày 20/9/1983 đến nhanh hơn tôi tưởng. Sáng hôm ấy, sương mù mỏng hơn mọi ngày, mặt trời ló ra từ sau ngọn núi, ánh lên màu vàng nhạt.

Chúng tôi – những người trong danh sách ra quân – đã gấp xong ba lô từ tối hôm trước: ít quần áo được cấp, mấy giấy khen, vài kỷ vật nhỏ như huy hiệu đơn vị, tấm ảnh chụp chung với tiểu đội, con dao găm cũ… Tôi còn bỏ thêm vào một hòn đá nhỏ trắng nhặt bên suối và một chiếc túi vải đựng mấy cánh hoa đào khô mà Páo đưa.

– Của mùa xuân trên Cốc Lầu – Páo nói – Mang về quê, để nhớ ở đây cũng có hoa, không chỉ có sương với đá.

Buổi lễ chia tay diễn ra ngay ở sân đồn. Cờ đỏ bay trên cao. Anh em tập trung thành hai hàng. Những người ra quân đứng phía trước, ngực cài hoa bằng vải đỏ, trên cánh tay vẫn là phù hiệu biên phòng mà vài tiếng nữa thôi sẽ phải tháo xuống.

Đồn trưởng Hoàng bước lên, giọng trầm nhưng ấm:

– Hôm nay, Đồn Cốc Lầu làm lễ chia tay cho mười hai đồng chí chiến sĩ đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Trong số các đồng chí, có người đã gắn bó với đơn vị từ những ngày đầu khó khăn nhất, khi pháo địch bắn như mưa. Các đồng chí đã cùng chúng tôi kéo dây, đào hầm, chống phỉ, giúp dân. Công lao ấy, đơn vị và nhân dân ghi nhớ.

Anh dừng một chút, nhìn chúng tôi:

– Ra quân không phải là hết trách nhiệm. Các đồng chí vẫn là bộ đội của nhân dân, là dự bị sẵn sàng. Về địa phương, các đồng chí tiếp tục xây dựng đời sống mới, góp phần giữ gìn an ninh trật tự. Khi Tổ quốc cần, mong rằng chỉ cần gọi là các đồng chí sẵn sàng khoác lại bộ quân phục.

Anh đọc lần lượt tên từng người, trao tấm giấy ra quân, tặng thêm một chiếc khăn quàng đỏ có thêu hai chữ “Kỷ niệm”. Đến lượt tôi, anh nắm tay lâu hơn một chút:

– Đồng chí Cương, lính thông tin của Cốc Lầu. Tôi nhớ đêm kéo dây lên 685, đêm báo động tuyến Tây, lần nào cũng thấy cậu ôm cái máy to tổ bố, mặt xanh nhưng tay không run. Về quê nhớ giữ cái nết đó – sợ nhưng vẫn làm.

Tôi không kìm được, cười:

– Báo cáo, em… vẫn còn hay run lắm ạ.

– Run là tốt – anh cười – Run mà vẫn làm mới đúng là lính.

Cả đồn cười theo, không khí nhẹ bớt.

Sau phần chính, đến mục “phát biểu cảm tưởng”. Thay mặt nhóm ra quân, một anh quê Thanh Hóa lên nói. Giọng anh nghèn nghẹn:

– Chúng em vào đơn vị khi còn rất trẻ, có người chưa đến mười tám tuổi. Hôm nay, ra quân mang theo bao nhiêu kỷ niệm. Chúng em xin hứa, về địa phương vẫn sống xứng đáng với người lính biên phòng…

Tôi nghe mà cổ họng nghẹn lại. Nếu bảo tôi lên nói, có khi tôi chẳng nói được gì, chỉ đứng đực ra đó.

Buổi lễ kết thúc bằng cái ôm, cái bắt tay, câu hẹn “gặp lại”. Khi hàng quân giải tán, Khánh chạy lại ôm lấy tôi:

– Về giữ gìn sức khỏe. Thằng nào quấy rối ở quê mày, báo cho tao, tao xin phép đơn vị lên “chi viện”.

– Ở quê tao chỉ có cua, cá, với mặn thôi – tôi đùa – mày mà lên chỉ sợ… mặn môi.

Páo cũng đến, đưa cho tôi một cái túi nhỏ khác:

– Đây là mấy hạt giống rau cải và ít bắp ngô của bản tao. Về đấy, nếu nhà mày trồng được, nhớ bảo tao xem nó có mọc lên được ở đất mặn không.

Tôi siết tay anh thật chặt:

– Mày giữ sức khỏe. Hẹn ngày xuống đồng bằng tắm biển.

Anh Tuấn vỗ vai:

– Nhớ viết thư về cho anh. Thằng nào về mà quên đơn vị, quên anh em, lần sau có lên chơi, anh bắt tập lại điều lệnh từ đầu.

– Rõ! – tôi giơ tay chào một cách nghiêm chỉnh, nhưng môi thì cười.

Rời núi

Xe từ huyện lên đón chúng tôi. Đứng trên thùng xe, nhìn qua khe cửa, tôi thấy cổng đồn Cốc Lầu lùi dần, cây cột cờ, mái nhà, cột ăng-ten quen thuộc nhỏ lại. Páo đứng cạnh cổng, tay giơ cao vẫy đến khi xe khuất hẳn sau khúc cua.

Gió thổi vào mặt mang theo mùi núi rừng – mùi mà tôi đã quen đến mức tưởng như là mùi da thịt mình.

Từ Cốc Lầu về thành phố Lào Cai, rồi xuống ga, lên tàu về xuôi. Con tàu sắt lắc lư trên đường ray, tiếng còi hú dài. Lần đi, tôi là thằng tân binh lần đầu rời làng, bỡ ngỡ nhìn mọi thứ. Lần về, tôi là người lính đã trải mấy mùa đông trên núi, nhìn lại cánh đồng, mái nhà… với một đôi mắt khác.

Trên tàu, mấy anh em ra quân ngồi chung toa, kể chuyện đơn vị, chuyện chốt, chuyện bà con. Có người hào hứng nói về kế hoạch tương lai:

– Về, tao xin vào hợp tác xã làm lái máy cày.
– Tao thì xin đi công trình xây dựng trên tỉnh.
– Còn tao chắc lại ra biển, đi đánh cá với bố.

Tôi chỉ cười, không nói nhiều. Trong đầu, hình ảnh đồn Cốc Lầu cứ chập chờn: bếp lửa, chuồng lợn, đường dây điện thoại, bản Khú Sáng… và cả cánh rừng nơi chúng tôi đụng độ phỉ.

Đêm, tôi ngồi dựa cửa sổ toa tàu, nhìn ra ngoài: những ánh đèn thưa thớt lùi lại phía sau, rồi biến mất vào đêm đen. Tiếng tàu chạy đều đều như nhịp tim trấn an.

Hôm tàu về đến ga Nam Định, tim tôi đập mạnh như lần đầu nghe tin nhập ngũ.

Từ ga về huyện, rồi từ huyện về xã, từ xã về làng… Mỗi đoạn đường đều quen mà lạ. Cây đa đầu làng vẫn đó, nhưng hình như thấp hơn trước – hay là tôi cao hơn? Con đường đất gập ghềnh ngày xưa giờ được đổ thêm sỏi. Nhà cửa có thêm vài mái ngói mới.

Trở lại bờ sông quê

Cổng nhà đây rồi. Mái tranh, hàng rào râm bụt, cái chum nước trước cửa. Mẹ đang phơi thóc ngoài sân, lom khom cào cho đều, chắc chẳng nghĩ tôi về đúng ngày này.

Tôi gọi:

– Mẹ ơi!

Mẹ ngẩng lên, tay còn cầm cái cào, đôi mắt hấp háy rồi bỗng dừng lại, trừng trừng nhìn. Thoáng chốc, nước mắt trào ra. Bà lao về phía tôi, vứt cả cái cào:

– Cương! Con… con về thật rồi hả con?

Tôi chỉ kịp đặt ba lô xuống, vòng tay ôm mẹ. Bờ vai gầy run lên. Mùi áo nâu, mùi khói bếp quen thuộc ập vào mũi, khiến tôi suýt khóc theo.

Cha từ trong nhà tập tễnh chống gậy ra. Tóc ông bạc hơn nhiều so với ngày tôi đi. Ông đứng cách một bước, nhìn tôi từ đầu đến chân, miệng mím lại, rồi gật đầu:

– Về là tốt. Đứng thẳng lên cho bố xem nào.

Tôi đứng nghiêm, vô thức giơ tay chào theo điều lệnh. Cha cười, mắt long lanh:

– Thôi, vào nhà đã, chào sau. Bộ đội biên phòng về làng, người ta còn nói chuyện dài.

Em gái tôi từ trong nhà chạy ra, giờ đã cao gần đến vai tôi. Nó hét:

– Anh Cương! – rồi nhào đến, suýt làm tôi ngã.

Cả nhà quây quanh tôi. Mẹ sờ tay, sờ mặt, sờ vai tôi như không tin tôi bằng xương bằng thịt đứng trước mặt.

– Gầy đi hay béo ra thế này? – Mẹ vừa khóc vừa cười – Ở trên đó ăn uống ra sao?

– Con vẫn ổn, mẹ ạ. Ở đồn có rau, có lợn, có bắp ngô, không đến nỗi đói. Lạnh thì có áo bông, có bếp sưởi.

Cha nhìn bộ quân phục, nói:

– Còn bộ này, giữ lại mà mặc, đừng vội thay. Để bà con nhìn mà biết nhà mình có thằng con đi bộ đội biên giới.

Hàng xóm trong xóm hay tin cũng kéo đến. Người hỏi thăm, người nhìn bộ quân phục, người nhắc chuyện ngày tôi lên đường:

– Mới đó mà đã bốn năm…
– Thế trên ấy có đánh nhau nhiều không cháu?
– Lính biên phòng chắc trèo núi giỏi lắm nhỉ?

Tôi vừa mệt vừa vui, cố gắng trả lời, nhưng cũng tránh kể những chuyện quá khốc liệt. Chỉ nói:

– Cũng có ngày yên, có ngày không yên ạ. Bà con trên đó thương bộ đội lắm.

Chiều, làng vắng dần. Mẹ sắp cho tôi bữa cơm đầu tiên: bát canh cua đồng, đĩa rau muống luộc, đĩa cá kho. Ngồi trước mâm, tôi bỗng nhớ đến những bữa cơm ăn vội trên chốt, lúc trời sương đặc, tay lạnh đến mức cầm đũa run.

Cha rót cho tôi một chén rượu nhỏ:

– Bố với bà con làm cho con bữa rượu mừng về. Uống đi, coi như rửa chân mới.

Tôi nhấp một ngụm, rượu quê nặng, cay xộc lên mũi, nhưng ấm. Cha nhìn tôi, chậm rãi:

– Thế là lời hứa của mày với nhà đã giữ được. Đi rồi về. Còn sống, còn nguyên vẹn tay chân, thế là phúc lớn. Trong đơn vị, chắc cũng có người… không về được nữa?

Tôi lặng đi, những gương mặt đồng đội đã ngã xuống hiện ra: một anh thông tin ở đồn bạn bị pháo vùi trong lúc nối dây, một chiến sĩ trẻ ở tuyến Tây trúng đạn phỉ. Tôi gật:

– Báo cáo… có, bố ạ.

Cha thở dài, mắt nhìn ra khoảng trời trước hiên:

– Chiến tranh mà. Nơi nào cũng có người ở lại. Nên những thằng về được phải sống cho ra trò. Đừng có về rồi lại sa vào rượu chè, cờ bạc. Mày hiểu không?

– Dạ, con hiểu.

Lạc lõng giữa đời thường

Những ngày đầu ở quê, tôi như người đi trên mây. Sáng dậy không có tiếng kẻng, không phải chạy bộ, không phải xếp hàng điểm danh. Thay vào đó là tiếng gà gáy, tiếng mẹ gọi ra sân sàng thóc, tiếng chèo thuyền trên sông.

Tôi phụ mẹ ra đồng, cầm cái cày, cái cuốc. Dù là con nhà nông, nhưng sau mấy năm cầm súng, cầm máy, tay tôi hơi vụng về khi cầm cán cuốc lại. Mấy anh bạn cùng trang lứa – người lấy vợ, người đang làm ruộng – trêu:

– Bộ đội về mà cuốc đất còn thua chúng tao.

– Lên đó chỉ leo núi với bấm máy, quên mất cày ruộng rồi à?

Tôi cười, vừa làm vừa nhớ những con dốc đá ở Cốc Lầu. Có hôm, đang lom khom cấy, nhìn sợi dây mảnh buộc mạ nối với tay mình, tôi chợt liên tưởng đến dây điện thoại ngày trước, lòng nhói lên một cái.

Đêm, làng im. Không còn tiếng pháo xa, chỉ có tiếng côn trùng, tiếng sóng vỗ. Nhiều đêm tôi trằn trọc, nhớ tiếng chuông điện thoại, nhớ tiếng anh Thọ gọi: “Cương, có chốt báo cáo!”, nhớ cả cảm giác lạnh tê khi ôm cuộn dây leo dốc. Ở quê ấm hơn, nhưng tôi lại thấy… thiếu những cái rét ấy.

Mấy tháng đầu, tôi hay giật mình mỗi khi nghe tiếng sét, tưởng là pháo. Có lần, loa trên xã bỗng rú to do nhiễu, tôi vô thức giật lấy cái radio cũ, áp sát tai, tưởng đang nghe máy. Em gái nhìn tôi, cười:

– Anh cứ như còn ở trên núi ấy.

Tôi gãi đầu:

– Ừ… chắc mai mốt quen dần.

Bọn bạn trong làng rủ tôi đi chợ phiên, đi xem chiếu phim lưu động. Có lần, xem một bộ phim chiến tranh chống Mỹ, cảnh bộ đội xung phong qua cầu, bom nổ. Cả sân bãi im phăng phắc. Tôi bỗng thấy tim mình đập dồn, tay nắm chặt. Khi phim kết thúc, người xem dần đứng lên, còn tôi cứ ngồi mãi, cảm giác như mình vừa xem một phần nhỏ đời mình, chỉ điều khác là ở biên giới và kẻ địch khác.

Gặp lại người con gái năm xưa

Một chiều, đang sửa cái cổng tre trước nhà, tôi nghe tiếng gọi:

– Anh… Cương!

Giọng gái, quen quen. Tôi ngẩng lên. Lan – cô gái cùng lớp cấp hai, người từng trêu tôi “sợ còn hơn con gái” trong buổi tập ném lựu đạn – đang đứng ở cổng, tay cầm cái thúng có mấy bó rau. Cô mặc áo nâu, tóc buộc gọn sau gáy, trông chững chạc hơn xưa.

– Lan… – tôi hơi lúng túng – Em… khỏe không?

Cô cười, mắt thoáng đỏ:

– Em nghe nói anh về mấy hôm rồi mà hôm nay mới sang được. Bận phụ mẹ bán hàng ngoài chợ.

Mẹ tôi từ trong nhà bước ra, tay vẫn lau vào vạt áo:

– Lan à, sang chơi hả con? Vào nhà đi. Nó mới về có mấy hôm, còn lóng ngóng lắm.

Lan cười, bước vào sân, đặt thúng rau xuống:

– Con mang ít rau mẹ con trồng biếu bác, gọi là mừng anh Cương… sống sót về.

Câu nói nửa đùa nửa thật, nhưng làm không khí nhẹ hẳn. Tôi gãi đầu:

– Anh vẫn còn nguyên tay, nguyên chân mà.

Lan nhìn tôi, ánh mắt có chút gì đó lạ lắm – không còn là ánh mắt cô bé từng tranh cãi chuyện tập bắn năm nào.

– Trên ấy… chắc vất vả lắm hả anh? – cô hỏi khẽ.

Tôi nghĩ một lúc rồi đáp:

– Vất vả thì cũng có. Nhưng quen rồi. Cũng có những lúc… vui, lúc yên bình lắm. Núi đẹp, người trên đó tốt.

Lan mân mê cái quai thúng:

– Hồi anh mới đi, em… cứ nghĩ chắc một, hai năm là về. Ai ngờ mãi tới giờ. Lúc nào nghe radio báo tin biên giới căng, em lại lo… – Nói đến đây, cô bỗng khựng lại, đỏ mặt – Ý em là… lo cho mọi người.

Tôi cảm thấy tai mình nóng lên:

– Ừ… anh cũng lo cho mấy người ở nhà. Nhiều đêm ở chốt, ngồi nghe gió, anh nghĩ không biết ngoài này giờ đang làm mùa gì, em có còn ra sông giặt áo như hồi xưa không.

Lan bật cười:

– Lâu lâu vẫn ra. Nhưng chẳng có ai ném nước lên ướt hết áo em như hồi đó nữa.

Tôi nhớ lại hồi cấp hai, có lần nghịch dại, múc nước hắt lên người Lan, bị cô đuổi chạy vòng cả bờ sông, rồi về bị mẹ mắng. Ký ức ấy hiện lên rõ mồn một, làm tôi cũng cười.

Chúng tôi ngồi trên bậc cửa, nói chuyện về những người bạn cũ: đứa đi bộ đội, đứa lấy chồng, đứa vào Nam làm kinh tế. Mặt trời dần khuất sau rặng tre. Gió từ sông thổi vào, mang theo chút mằn mặn.

Trước khi về, Lan bỗng nói, giọng nhỏ:

– Mai mốt anh định ở quê luôn à?

– Chắc vậy. Nhà mình… còn nhiều việc, bố mẹ già rồi. Nếu có dịp, anh muốn đi làm công trình đâu đó một thời gian – tôi trả lời thật.

Lan gật, mắt hướng về con đường làng:

– Ừ. Dù đi đâu, em nghĩ… anh vẫn là anh Cương ngày xưa thôi.

Câu nói ấy, tôi cất mãi trong lòng.

Tin chiến sự từ chiếc radio cũ

Thời gian trôi, tôi dần hòa vào cuộc sống làng. Ngày làm ruộng, tối nghe radio, thỉnh thoảng ra hợp tác xã làm khoán. Nhưng chiến tranh vẫn không rời khỏi cuộc đời tôi – chỉ là chuyển từ tiếng pháo thật sang tiếng đọc bản tin.

Một tối, cha lại bật chiếc radio National cũ. Sau ít phút bản tin trong nước, giọng phát thanh viên nghiêm lại:

“… Ở mặt trận biên giới phía Bắc, quân và dân ta tiếp tục kiên cường chiến đấu bảo vệ từng tấc đất Tổ quốc. Đặc biệt, tại Vị Xuyên (Hà Tuyên), quân ta đã đánh bại nhiều đợt tiến công của quân Trung Quốc, giữ vững trận địa…”

Tôi ngồi ở góc nhà, tay dừng lại trên tấm áo đang vá, ngẩng lên. Những cái tên như Vị Xuyên, Lũng Cú, Thanh Thủy… mà trước đây chỉ là điểm trên bản đồ giờ vang lên với một sức nặng khác. Tôi biết: ở những nơi ấy, có những người lính giống tôi, có thể trẻ hơn, đang nằm trong hầm, ôm súng canh chừng từng mét đất đá.

Mẹ nhìn tôi, lo lắng:

– Con nghe mấy tin này có… nhớ trên đó không?

Tôi cười nhẹ:

– Nhớ chứ mẹ. Nhưng giờ con ở nhà cũng phải làm cho tốt. Ở đó, còn bao nhiêu người khác đang làm thay mình.

Cha nhìn lên trần nhà, trầm giọng:

– Nó mà chưa ra quân, giờ chắc cũng đang ở đâu đó ngoài ấy. Được ở nhà là một phần may mắn. Nhưng nghe tin vẫn phải biết mình còn trách nhiệm.

Có những đêm, sau khi cả nhà đã ngủ, tôi ra hiên đứng, nhìn lên trời đầy sao, bỗng nghĩ: “Không biết giờ này ở Cốc Lầu, Páo có đang ôm súng gác chốt? Khánh có còn vác B-41 đi tuần? Anh Tuấn có còn nhắc tân binh gấp chăn như ‘bánh chưng’ không?”

Một chút hối tiếc âm ỉ trong lòng: mình ra đi khi chiến sự vẫn còn âm ỉ, như thể bỏ dở một cuốn sách chưa đọc xong. Nhưng rồi tôi nhớ lời anh Hoàng: “Ra quân không phải là hết trách nhiệm.” Mỗi người lính có quãng thời gian của riêng mình; không ai được ở mãi trong một chiến hào.

Một mảnh biên cương trong túi áo

Một hôm, lục lại ba lô cũ, tôi tìm thấy hòn đá trắng nhặt bên suối Cốc Lầu và túi vải đựng cánh hoa đào khô. Tôi đem chúng ra bờ sông, ngồi trên mô đất nơi tôi từng ngồi lúc nhỏ.

Tôi mở túi vải: những cánh hoa đào giờ chỉ còn là mấy mảnh mỏng, màu đã nhạt, nhưng vẫn mang mùi thơm rất nhẹ. Tôi bóp nhẹ, mùi ấy bỗng đưa tôi ngược về mùa xuân năm nào trên Cốc Lầu: hoa đào nở hồng cả sườn núi, áo bộ đội phơi đầy sân đồn, Páo gùi củi, Khánh ngồi gảy mấy dây đàn tự chế, tiếng cười vang giữa gió lạnh.

Tôi cầm hòn đá trắng lên, xoay trong lòng bàn tay. Hòn đá trơn, mát, vô tri, nhưng với tôi, nó là một phần biên cương. Tôi không mang được núi về, không mang được tiếng gió, nhưng mang được hòn đá này, như một lời nhắc.

Em gái ngồi cạnh, hỏi:

– Hòn đá này có gì mà anh nhìn mãi thế?

– Đá biên giới – tôi đáp.

– Biên giới khác đá làng mình à?

– Khác chứ. Đá làng mình không nghe tiếng súng.

Em gái im, rồi bất ngờ nói:

– Sau này, nếu hết chiến tranh, anh đưa em lên chỗ đá này nhé. Em muốn xem “biên giới” là thế nào.

Tôi cười, xoa đầu nó:

– Ừ, nếu lúc đó đường đi dễ hơn bây giờ, anh dẫn em lên. Hỏi ông Páo cho em ăn mèn mén, cho em nhìn sương mù Cốc Lầu.

Tối ấy, trước khi ngủ, tôi đặt hòn đá lên nóc tủ, cạnh tấm giấy ra quân. Hai thứ, một cứng lạnh, một mềm mỏng, nhưng đều nhắc tôi rằng mình đã từng thuộc về một nơi mà không phải ai cũng có cơ hội đi qua.

Khép lại một chặng, mở ra chặng khác

Thời gian từ ngày ra quân tới hết năm 1983 trôi khá nhanh. Tôi dần quen với việc làm ruộng, tham gia các phong trào thanh niên ở xã. Mỗi lần có bộ đội về tuyển quân, tôi lại được mời lên kể chuyện biên giới cho đám thanh niên mới lớn nghe.

Đứng trên sân ủy ban, nhìn mấy cậu trai mười tám, mười chín tuổi, mắt trong veo như tôi ngày xưa, tôi kể về Cốc Lầu, về sương mù, về đường dây điện thoại, về trận pháo ở 685, trận đụng độ thổ phỉ ở tuyến Tây. Không tô vẽ, không giấu giếm, chỉ nói rằng:

– Đi bộ đội vất vả, nhưng là thời gian quý. Nó dạy mình biết sợ đúng thứ, thương đúng người, ghét đúng kẻ.

Có người hỏi:

– Anh có hối hận vì đã đi không?

Tôi cười:

– Nếu được chọn lại, anh vẫn đi. Nhưng có lẽ anh sẽ… mang thêm cái áo ấm.

Cả đám cười, không khí bớt căng.

Một cán bộ trên huyện xuống, thấy tôi kể chuyện khá, lại có kinh nghiệm ở biên giới, gợi ý:

– Hay là năm sau cậu đăng ký đi lao động ở công trình thủy điện Sông Đà? Nhà nước đang cần nhiều thanh niên từng qua bộ đội, chịu được gian khổ.

Câu nói ấy sau này mở ra chặng đường mới của tôi – chuyến đi Sông Đà năm 1985–1986, một “mặt trận” khác không có tiếng súng nhưng cũng đầy gian nan. Nhưng đó là câu chuyện của phần tiếp theo.

Còn năm 1983 ấy, tôi vẫn thường đứng ở bờ sông làng, nhìn mặt nước lăn tăn, tưởng tượng ra những ngọn núi xa xôi phía Bắc. Biên giới giờ cách tôi hàng trăm cây số, nhưng trong lòng, nó chưa bao giờ rời xa.

Tôi hiểu: tuổi trẻ của mình đã gửi lại một phần ở Cốc Lầu, Sìn Chéng, những điểm cao không tên. Những ngày cầm súng, ôm máy, kéo dây giữa sương mù đã khép lại, nhưng dấu vết của chúng thì còn mãi trong cách tôi sống, trong cách tôi nhìn cuộc đời sau này.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn