Bài viết

ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam

CHUYỆN THỜI HOA LỬA Theo truyền thống gia đình, cứ đến ngày 22-12 – ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, chúng em lại quây quần về thăm ông ngoại. Ông em tên là Nguyễn Đình Huyền, một cựu chiến binh đã đi qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, nay sống bình dị và khiêm nhường giữa đời thường, lặng lẽ như chính phẩm chất của người lính năm xưa.

Quảng Trị13/01/2026Trương Phương Thảo (Đoàn xã Nam Gianh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

CHUYỆN THỜI HOA LỬA

Theo truyền thống gia đình, cứ đến ngày 22-12 – ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, chúng em lại quây quần về thăm ông ngoại. Ông em tên là Nguyễn Đình Huyền, một cựu chiến binh đã đi qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, nay sống bình dị và khiêm nhường giữa đời thường, lặng lẽ như chính phẩm chất của người lính năm xưa. Năm nay ông đã 82 tuổi, mái tóc bạc phơ theo năm tháng nhưng ánh mắt ông sáng ngời và giọng nói minh mẫn tràn đầy sự ấm áp mà rắn rỏi. Giữa phòng khách, dưới bức chân dung Bác Hồ, ông trang trọng treo những bằng khen và Huân chương kháng chiến chống Mĩ cứu nước và Huân chương Chiến sĩ giải phóng. Là con trẻ, lâu nay em mãi vui chơi học hành, không quan tâm xuất xứ của hai tấm huân chương đáng tự hào này. Hôm nay ngày lễ em mới chú ý đọc kĩ thành tích ghi trên huân chương và hỏi ông: “Vì sao ông được tặng những tấm Huân chương và những Huy chương có sao vàng lấp lánh vậy ông ?’’

Ông cười hiền, xoa đầu em rồi chậm rãi nói: “Chuyện dài lắm cháu ạ, lại đã quá lâu rồi, nên ít ai có thời gian và cơ hội để kể ra.” Hôm nay cháu làm ông nhớ lại cái thời gian khổ. Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, đất nước mình có biết bao đổi thay. Ngày ấy, khi ông vừa tròn hai mươi tuổi, đang học dở dang nửa năm lớp 9/10 thì trúng tuyển vào quân đội. Lớp ông có 3 người đi, vinh dự lắm nhưng cũng nao lòng nhớ thầy, nhớ bạn và nhớ nhất là mẹ, nhớ người chị gái duy nhất của ông.

Vào huấn luyện được 3 tháng thì đơn vị có lệnh đi B - vào chi viện cho chiến trường miền Nam đang rất khốc liệt. Ông được biên chế vào Đại đội hỏa lực, gồm 1 trung đội pháo cối 81, một trung đội ĐKZ, một trung đội Đại liên Kô-ni-lốp. Hành quân 29 ngày đêm dãi gió dầm sương, gian khổ khôn cùng mới tới mặt trận Kom Tum. Trong một trận đánh vào khu chiến thuật của đối phương gồm lính Ngụy và lính Thái Lan, khẩu đại liên của Tiểu đội ông bắn xối xả yểm trợ cho bộ binh. Bắn hết 2 thùng đạn 500 viên thì nòng súng nóng đỏ nên đạn không bay xa được đến lô cốt địch. Khẩu đội phải đẩy súng vào cây Kơ-boong to để thay nòng mới vào để có thể tiếp tục chiến đấu. Tiểu đội của ông đã chiến đấu ròng rã cả ngày đêm ác liệt, lúc bấy giờ đã là 3 giờ sáng mà đồn Tòng Vai vẫn chưa hạ được. Nếu trời sáng thì pháo tầm xa và máy bay T28 đến yểm trợ thả bom thì quân ta rất khó rút vào rừng. Quân ta quyết định rút quân ngay, các đồng đội của ông nhiều người đã hi sinh, nhiều người bị thương được tải thương chuyển đi. Khi ra tới khúc suối cạn kênh Bơ Nao, Tiểu đội kiểm tra lại vũ khí thì phát hiện ra quên chiếc nòng súng ở mặt trận. Theo luật quân sự thì không được bỏ lại vũ khí ở mặt trận sau khi rút lui. Nếu để vũ khí rơi vào tay địch thì cả đơn vị sẽ bị kỷ luật. Nghiêm trọng như vậy nên Trung Đội Trưởng giao mệnh lệnh cho ông phải quay trở vào trận địa lấy lại nòng súng, vì ông còn trẻ và nhanh nhẹn, lại là người nhớ rất kĩ đường và vị trí chiến đấu.Trời sắp dần mờ mờ sáng, đường trở vào mặt trận trở nên vô cùng nguy hiểm nhưng vì cả Tiểu đội đang đặt niềm tin vào ông, vì mệnh lệnh của chỉ huy nên ông tuyệt đối phải thi hành. Ông lom khom vừa chạy vừa bò, quảng đường khoảng 500m đến gốc cây Kơ-boong sao mà xa đến thế. Ông sờ soạng trong đêm tối, may mắn chiếc nòng đại liên phủ sương ướt vẫn còn nguyên. Cháu ơi, lúc ấy lòng ông vui sướng vô cùng, ông quên hết hiểm nguy, quên hết cả sự kiệt sức vì thiếu ăn thiếu ngủ đang hành hạ ông vì ông đã bảo toàn được vũ khí cho Tiểu đội.

Trong cuộc họp Tiểu đoàn sau đó, ông được biểu dương về thành tích dũng cảm chiến đấu, không ngại hi sinh gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ được giao, chấp hành mệnh lệnh chiến trường. Ông được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba. Tấm Huân chương Chiến công hạng Ba đã theo ông như một dấu mốc thiêng liêng của đời lính, ghi lại những năm tháng tuổi trẻ sôi sục giữa bom đạn. Khi ấy, trong tim mỗi người lính chỉ có một ý nghĩ duy nhất: xông lên phía trước, dù gian khổ, hi sinh cũng không lùi bước, bởi phía sau là quê hương, là gia đình, là khát vọng hòa bình của cả dân tộc. Chính niềm tin ấy đã hun đúc nên sức mạnh để những người lính như ông vượt qua mọi thử thách, chiến đấu quên mình vì độc lập, tự do của đất nước.”

Ông dừng lại, ánh mắt như xa xăm nhìn về một miền ký ức đầy bom đạn và gian khổ. Ngoài kia, tiếng gió khẽ lay hàng cây trước ngõ, còn trong đôi mắt ông, em thấy những đêm rừng mưa dầm lạnh buốt, những ngày đói cơm, khát nước, vai trĩu nặng ba lô và vũ khí như đang lần lượt hiện về. Ông nhắc đến những cuộc hành quân xuyên rừng sâu, băng suối lạnh, đến những trận đánh ác liệt khi cái sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc. Ông kể tên từng đồng đội đã nằm lại nơi rừng núi heo hút, có người ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, chưa kịp gửi về quê nhà một lá thư báo bình an. Mỗi cái tên được nhắc lên là một lần giọng ông chùng xuống, nhưng đó không phải là nỗi buồn bi lụy, mà là niềm tự hào lặng lẽ của người lính Cụ Hồ - những con người đã chấp nhận mọi gian lao, hi sinh để đổi lấy ngày đất nước nở hoa độc lập, hòa bình.

Câu chuyện của ông khép lại, căn phòng bỗng lặng đi. Em nhìn những tấm Huân chương lấp lánh dưới ánh đèn mà lòng trào dâng một niềm xúc động khó tả. Hóa ra phía sau những tấm kim loại nhỏ bé ấy là cả một thời tuổi trẻ đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của biết bao người lính. Trong giây phút thiêng liêng của ngày 22-12, em thầm hứa sẽ sống xứng đáng với truyền thống gia đình, với sự hi sinh của ông và các thế hệ cha anh - sống có trách nhiệm, học tập tốt và góp phần nhỏ bé của mình để giữ gìn hòa bình, độc lập cho quê hương, đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn