NGHỆ SĨ HUỲNH THỦ TRUNG - TƯ CHƠI (1906-1964)
Ông tên thật là Huỳnh Thú Trung, sinh năm 1906, tại làng An Hóa, tông Hòa Quới, tỉnh Mỹ Tho (nay là xã An Hóa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre). Cuộc đời niên thiếu của ông rất ít người biết rõ, chỉ biết rằng khi bước vào con đường nghệ thuật, ông rất giỏi chữ Nho, biết tiếng Pháp lẫn tiếng Anh và làm thơ hay. Cũng không rõ ông học nhạc lý từ thầy nào. Có lẽ do ông tự học, thông qua đọc nhiều sách vở mà am hiểu nhạc lý, cùng với tài năng thiên phú và sáng tạo, đã tự rút tỉa những nguyên lý và cách thức biểu diễn cho riêng mình.
Ông là một nhạc sĩ cổ nhạc tài hoa, chuyên đờn đoản và đờn violon. Nhạc sĩ Lê Thương, trong bài Nhớ về anh Tư Chơi (tháng 10/1991) đã viết về ngón đờn kìm điêu luyện của ông: "Ngón đàn của anh Tư không thể dùng chữ gì khác hơn hai chữ tuyệt diệu để nói về cái nhấn, cái vuốt, cái rung, cái mổ, cái búng, cái bịt. Nhấn rồi vuốt, tiếng đàn nghe như nỉ non, đặc biệt là khi vuốt nông, vuốt lướt khiến phát ra hư âm, đêm khuya ngồi gần nghe thấm thía lắm.” Ông cũng là người đầu tiên sáng tạo đưa tân nhạc, nhạc Pháp lời Việt vào tuồng cải lương. Ông viết lời Việt nhạc Tây, tân nhạc cho diễn viên ca trong tuồng hát.
Ông được đánh giá là một ngôi sao sáng chói của làng cải lương thập niên 1930 - 1950. Những vở tuồng kinh điển của soạn giả Tư Chơi đã góp phần kiến tạo nên nhiều tên tuổi nghệ sĩ cải lương nổi tiếng. Ông sáng tác nhiều tuồng xã hội như: Khúc oan vô lượng, Lỡ tay trót đã nhúng chàm, Tiếng nhạn kêu sương, Tôi xin chừa Hai mặt còn trơ, Ai là bạn chung tình, Em muốn tự do... Các tuồng hát này làm mưa làm gió trên các sân khấu Huỳnh Kỳ, Trần Đắc từ Nam chí Bắc, với những ngôi sao sân khấu như Phùng Há, Năm Châu, Tư Út, Kim Thoa, Kim Hui, Tư Thạch...
Những năm 1930 - 1954, giới báo chí kịch trường đã có những bài viết ca ngợi nhóm tứ quý của sân khấu cải lương Nam Bộ bấy giờ, là: Trang, Châu, Chơi, Nở (Trang - Trần Hữu Trang, Năm Châu - Nguyễn Thành Châu, Tư Chơi và Năm Nở - Lê Hoài Nở).
Năm 1926 ông kết hôn với nghệ sĩ tài danh Phùng Há khi hai người cùng gia nhập gánh hát Trần Đắc của ông bầu Trần Đắc Nghĩa. Nhưng chỉ sau hai năm sống chung, cuộc hôn nhân này tan vỡ, hai người chia tay.
Năm 1929, soạn giả Tư Chơi cưới nghệ sĩ tài danh, xinh đẹp Kim Thoa. Hai người có với nhau một người con sau này là nhạc sĩ Huỳnh Hiếu (còn gọi là Huỳnh Háo).
Có lẽ còn nặng tình với nghệ sĩ Phùng Há, sau khi chia tay bà và trở thành chồng của nghệ sĩ Kim Thoa, soạn giả Tư Chơi vẫn viết nhiều vở tuồng "Hương xa" cho đoàn Phụng Hảo của Phùng Há, vừa viết tuồng xã hội cho đoàn Kim Thoa của vợ mình.
Tuy có người vợ sau tài sắc vẹn toàn, danh tiếng lẫy lừng, nhưng cũng không có kết cục tốt đẹp, ông lại ly dị nghệ sĩ Kim Thoa vào năm 1953. Từ đó, ngọn lửa sáng tạo nghệ thuật của ông dường như tắt lịm.
Sau này, có người cho rằng: Ông là ngôi sao sân khấu, dù có lúc bị mây che mờ, nhưng ngôi sao vẫn là ngôi sao. Tài năng của ông vẫn có thể giành lại cho ông một vị trí xứng đáng trên vòm trời nghệ thuật. Ông tự cay đắng nói về mình: Tôi bây giờ chỉ là mảnh vụn của một vì sao. Năm 1989, có lẽ suy ngẫm từ câu nói đó của Tư Chơi, nhà văn Trang Thế Hy đã viết truyện ngắn "Chút hào quang từ mảnh vỡ của một ngôi sao buồn", trong đó nhân vật thật là nghệ sĩ Tư Chơi.



