NGHỆ THUẬT THU PHỤC TÙ TRƯỞNG VÀ CHÍNH SÁCH ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CỦA CHÚA TIÊN NGUYỄN HOÀNG
SỐNG CÒN TRÊN VÙNG ĐẤT ĐA SẮC TỘC
Khi Chúa Tiên Nguyễn Hoàng mang gươm đi mở cõi, đặt chân vào trấn thủ xứ Thuận Hóa năm 1558 và sau đó kiêm quản Quảng Nam, một trong những thách thức lớn nhất mà ông phải đối mặt không chỉ là đối phó với thế lực thù địch từ bên ngoài hay nạn giặc cướp, mà là cách ứng xử với các cộng đồng bản địa, các tộc người thiểu số và lưu dân người Chăm, người Thượng đang sinh sống đan xen tại đây.
Lúc bấy giờ, Thuận - Quảng là một vùng biên viễn có cơ cấu xã hội vô cùng phức tạp. Các tù trưởng các bộ tộc thiểu số nắm giữ lực lượng vũ trang tại chỗ, quen thuộc địa hình rừng núi hiểm trở. Nếu dùng vũ lực để đàn áp, dẹp loạn, triều đình Đàng Trong sẽ rơi vào một cuộc chiến tranh du kích hao tổn binh lực, khó lòng đứng vững lâu dài. Ngược lại, nếu không có biện pháp thu phục, vùng đất mới sẽ luôn tiềm ẩn những cuộc nổi dậy bất ngờ.
Đứng trước bài toán hóc búa đó, Nguyễn Hoàng đã áp dụng một chiến lược ngoại giao văn hóa và nhân tâm kiệt xuất: Không dùng gươm giáo để khuất phục, mà dùng ân huệ, sự tôn trọng và luật pháp công bằng để cảm hóa.
GIAI THOẠI VỀ CÁCH XỨ LƯỚI VÀ KẾT THÂN VỚI CÁC TÙ TRƯỞNG ĐỊA PHƯƠNG
Theo các tư liệu lịch sử và dã sử ghi lại, ngay từ những ngày đầu đặt chân đến Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đã chủ động cử các tướng sĩ tin cẩn mang theo sản vật, lụa là đến thăm hỏi các tù trưởng địa phương.
Thứ nhất, tôn trọng phong tục tập quán: Thay vì áp đặt ngay các luật lệ của người Việt miền xuôi lên các đồng bào thiểu số, Nguyễn Hoàng cho phép các tù trưởng tiếp tục duy trì lối sống, luật tục truyền thống của bộ tộc mình trong khuôn khổ trật tự chung không làm hại đến trị an. Ông đứng ra làm trọng tài công bằng cho các tranh chấp đất đai, buôn bán giữa người Việt và người bản địa, tuyệt đối không cho phép quân lính ức hiếp hay cướp bóc dân bản xứ.
Thứ hai, kết thân và gả, nhận nghĩa tình: Trong nhiều trường hợp, để thắt chặt tình đoàn kết gắn bó keo sơn, Nguyễn Hoàng đã khéo léo dùng chính sách ngoại giao hôn nhân hoặc kết nghĩa anh em với các dòng tộc tù trưởng lớn có uy tín trong vùng. Nhờ đó, các tù trưởng cảm nhận được sự thành tâm, lòng tôn trọng thực sự từ vị chúa mới chứ không phải là thái độ kẻ cả của kẻ chiến thắng.
SỰ CHUYỂN BIẾN KỲ DIỆU: TỪ "KẺ THÙ TIỀM TÀNG" THÀNH "HỘ VỆ BIÊN CƯƠNG"
Chính sách nhân hòa, khoan dung và trí tuệ của Nguyễn Hoàng đã mang lại những trái ngọt bất ngờ. Từ những bộ tộc ban đầu còn hoài nghi, dè dặt, thậm chí đôi khi bị các thế lực bên ngoài xúi giục nổi dậy chống phá, dần dần họ đã hoàn toàn quy phục, tâm phục khẩu phục trước uy đức của Chúa Tiên.
Nhiều con em các thủ lĩnh bộ tộc địa phương sau đó được Nguyễn Hoàng trọng dụng, đưa vào hàng ngũ tướng sĩ, được phong chức tước và giao trọng trách giữ các cửa ải rừng núi hiểm trở. Họ đã trở thành những "lá chắn thép" bảo vệ sườn phía Tây của xứ Đàng Trong, đồng thời là nhịp cầu giao thương buôn bán lâm thổ sản quý hiếm (trầm hương, sừng tê, ngà voi, quế trà My) với miền xuôi và các thương nhân nước ngoài tại Hội An.
Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ DI SẢN ĐỂ LẠI
Câu chuyện về cách thu phục các tù trưởng và đồng bào bản địa của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng để lại những bài học vô giá về nghệ thuật trị quốc:
Nền tảng của đại đoàn kết dân tộc: Sự nghiệp mở cõi của Đàng Trong không thể thành công nếu thiếu đi sự chung tay góp sức của cả cộng đồng đa dân tộc. Nguyễn Hoàng là vị chúa đầu tiên đặt nền móng cho chính sách hòa hợp, dung hợp văn hóa tại miền Nam.
Sức mạnh của nhân đức vượt lên trên vũ lực: Triết lý "lấy nhân tâm làm gốc" đã giúp Đàng Trong biến những vùng đất hiểm trở, lòng người ly tán thành một hậu phương vững chắc, tạo đà an toàn cho các đời chúa sau tiếp tục tiến sâu vào phương Nam.


