Bài viết

Nghi binh chiến lược và nỗi đau của người bị sót lại

Ninh Bình13/05/2026Lê Uyên Nhi (11A9 THPT Xuân Trường)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dòng chảy của lịch sử, chiến dịch Tây Nguyên hiện lên như một thiên anh hùng ca chói lọi. Thế nhưng, đằng sau những chiến thắng vẻ vang ấy là một hiện thực trần trụi, đầy rẫy những hy sinh âm thầm mà mỗi khi nhắc lại, người thương binh Bùi Văn Tuyến vẫn không khỏi bàng hoàng. Đó là một thời hoa lửa oanh liệt nhưng cũng là một thời kỳ đau khổ đến tột cùng, nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết mỏng manh như một sợi tóc giữa đại ngàn bazan.

Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4 - 24/3/1975) là chiến dịch mở đầu cuộc tiến công chiến lược, đã tiêu diệt và đập tan toàn bộ hệ thống phòng thủ của Mỹ nguỵ ở Tây Nguyên, tạo ra thời cơ chiến lược và điều kiện thuận lợi phát triển thành cuộc tổng chiến lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Khi đất nước đang sục sôi khí thế "Tất cả vì miền Nam ruột thịt", Bùi Văn Tuyến khi ấy mới chỉ là chàng trai trẻ, cái tuổi 17 giữa lúc bạn bè đồng trang lứa còn đang miệt mài bên trang sách, ông đã có một quyết định thay đổi cả cuộc đời: Tự nguyện viết đơn xung phong nhập ngũ. Năm 1970 ông lên đường với một tâm thế " muốn sống, nhưng không sợ chết” đang rực cháy, không một chút đắn đo về những hiểm nguy đang chờ đợi phía trước.

Để chuẩn bị cho những thử thách khắc nghiệt nhất, ông đã trải qua 3 tháng huấn luyện cấp tốc ròng rã tại miền Bắc. Những ngày tháng luyện quân khổ cực trên bãi tập, những đêm hành quân mang vác nặng đã tôi luyện cậu trai trẻ thư sinh ngày nào thành một người lính vận tải can trường. Kết thúc khóa huấn luyện, ông chính thức cầm vô lăng, bắt đầu hành trình tiến vào "chảo lửa" Tây Nguyên - nơi mà mỗi vệt bánh xe đều phải đánh đổi bằng chính mạng sống của mình.

Năm 1975, để chuẩn bị cho trận đánh Buôn Ma Thuột, quân ta thực hiện một chiến lược nghi binh bằng nhiều cách vô cùng táo bạo nhằm dắt mũi quân thù. Nghi binh dùng Sư đoàn 10 và 320 dắt mũi địch về hướng Kon Tum và Pleiku. Những người lính lái xe như ông Tuyến chính là những "diễn viên" trên sân khấu khổng lồ đầy tử thần đó. Hàng đêm, ông phải cám lái chiếc Zin-131 chạy lòng vòng vô định trên các cung đường. Đi rồi lại quay về , nổ máy ầm ĩ để tạo bụi mù, bật đèn pha sáng rực ban đêm để "lộ diện" trước ra đa và máy bay trinh sát của địch. Mục đích duy nhất là để chúng tin rằng chủ lực của ta đang dồn quân về phía Bắc mà bỏ quên Buôn Ma Thuột. Đó là một cuộc hành xác thực sự. Dưới làn bom đánh phá điên cuồng của kẻ thù vì, ông và đồng đội còn phải chiến đấu với một kẻ thù khác đáng sợ


hơn "Cái đói".

Trong điều kiện thực phẩm cạn kiệt, hệ thống kho tàng trống rỗng đến mức ngay cả hạt muối cũng trở thành điều không tưởng những người lính đã phải sống một cuộc đời khốn cùng nhất. Để có thứ vào bụng mà bám vô lăng, ông đã phải quỳ xuống, đôi bàn tay gầy rộc xới tìm trong những đống rác mục bên bìa rừng, nhặt nhạnh từng hạt gạo mốc rơi vãi từ những bao tải rách nát năm xưa. Những hạt gạo vương vãi lẫn trong bùn đất, rác rưởi ấy được gom góp lại, rửa qua loa rồi nấu lên thành cháo để duy trì chút hơi tàn. Cái đói ấy không chỉ làm teo tóp cơ thể mà còn là một sự tra tấn tinh thần khủng khiếp đối với những người lính trẻ.

Cái khổ của lính Tây Nguyên bấy giờ không chỉ là bom đạn. Tư liệu về chiến trường bấy giờ ghi lại những dòng chữ đẫm máu: "Họ chết vì suối cuốn, núi xô, cây đổ, hổ vồ; chết vì những cơn sốt rét rừng ác tính" hoặc bị ngộ độc rau, củ, quả rừng … trên đường đi lấy gạo, đi công tác, đi sản suất. ÔngTuyến đã chứng kiến những người anh em của mình gục ngã không phải bởi đạn lạc, mà vì bệnh tật giữa đại ngàn nguyên thủy.

Những đêm nằm hầm mưa xối xả, bùn lầy tràn vào tận ngực, cái lạnh thấu xương của núi rừng khiến những chiếc võng mục trở thành nơi nương tựa duy nhất. Nhiều người lính chưa kịp nghe tiếng súng tổng tấn công đã mãi mãi năm lại trên những chiếc võng ấy, mang theo những giấc mơ tuổi trẻ vào lòng đất lạnh. Đó là một hiện thực tàn khốc mà chỉ những người như ông Tuyến mới thấu hiếu hết sự nghiệt ngã của từ "hy sinh".

Đỉnh điểm của bi kịch ập đến vào một ngày tháng 3 năm 1975 định mệnh. Chiếc xe vận tải chở 4 người của ông đang hối hả tiến vào Nam Tây Nguyên thì trúng mìn. Một tiếng nổ xé toạc bầu trời, sắt thép biến dạng hoàn toàn dưới sức công phá của tử thần. Khói đen mù mịt xộc vào lồng ngực, không gian rơi vào một sự im lặng rợn người đến mức nghe rõ cả tiếng máu nhỏ xuống nền đất.

Khi tỉnh dậy giữa đống sắt thép hỗn độn, ông Tuyến bàng hoàng nhận ra mình là người duy nhất còn hơi thở. Trên xe có 4 người thì 3 người đồng chí vừa mới đây thôi còn cùng ông bới rác tìm gạo vừa mới cười nói về ngày hòa bình nay đã không còn. Hình ảnh thi thể đồng đội không còn nguyên vẹn dưới vệt lửa mìn là nỗi đau xé tâm can mà suốt đời này ông không thể quên được.

Giữa đại ngàn hoang lạnh, khi sự sống của ông chỉ còn treo trên sợi tóc, thật may mắn khi một đội hành quân khác đi ngang qua đã phát hiện ra vệt cháy và những mảnh vỡ của chiếc xe.

Họ lao vào đống đổ nát, kéo ông ra khỏi ca-bin bẹp dúm. Lúc bấy giờ, thuốc men cạn kiệt, giữa rừng già không có lấy một viên kháng sinh hay thuốc giảm đau. Nhìn vết thương ở chân đã dập nát, bắt đầu hoại tử, các đồng đội chỉ biết nghiến răng dùng băng cá nhân sơ cứu tạm thời và thay phiên nhau cáng ông vượt hàng trăm cây số đường rừng để đưa ra Bắc điều trị.

Cuộc hành trình từ chiến trường ra hậu phương là một chuỗi những cơn đau xé thịt và những lần chết đi sống lại. Để giữ lấy mạng sống cho ông trước ống tiêm và dao mổ, các bác sĩ đã buộc phải thực hiện quyết định đau đớn nhất: cắt bỏ một bên chân.

Thời bình ông trở về với danh hiệu thương binh hạng 2/4 mất khả năng lao động từ 61 đến 80%. Nhưng cái đau đớn nhất không nằm ở đôi chân phải bị cụt, mà năm ở sự bàng hoàng của "người bị sót lại".

Trở về với đời thường, mỗi khi trái gió trở trời, vết thương cũ lại đau nhức như nhắc nhở về một thời hoa lửa đầy máu và nước mắt. Ông luôn tìm đến rượu chè để có cái cớ bộc lộ cảm xúc, sự tự ti khiến ông càng trở lên khó tính .


Cái khổ của ông Tuyến hôm nay là nỗi đau của ký ức, mỗi miếng cơm trắng đều khiến ông nhớ về vốc rác rừng năm ấy, mỗi bước đi khó nhọc trên đôi chân giả đều khiến ông nhớ về những người bạn đã mãi mãi gửi lại tuổi xuân ở ngưỡng cửa chiến thắng.

Câu chuyện của ông Bùi Văn Tuyến không chỉ là một trang sử, mà là một minh chứng sống về sự khốc liệt: Độc lập được đổi bằng những bát cơm xới từ rác rừng, bằng những chiếc võng mục giữa đại ngàn và bằng chính máu xương của những người lính đã ngã xuống ngay trước giờ phút khải hoàn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn