Nghị lực người mẹ - Mẹ VNAH - Nguyễn Thị Vuông
Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Vuông quê ở Cổ Đẳng, Tân Liên, Vĩnh Bảo, có hai con trai đều hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Năm nay đã 83 tuổi, hiện ở với người em họ của chồng. Mẹ ngồi im lặng, nhìn về xa xăm. Hình ảnh ngày xưa, hơn hai phần ba thế kỷ, cái nhớ, cái quên dần hiện về. Phải khá lâu mẹ mới chậm rãi tâm sự với con cháu đến thăm cứ nằng nặc đòi được kể lại. Sinh ra trong một gia đình nghèo khó, mười tuổi mẹ đã phải đi ở cho nhà giàu để có miếng cơm, manh áo. Lúc nhỏ chưa làm được việc nặng thì trông con cho gia đình họ, khi lớn 14 - 15 tuổi thì chăn trâu, cắt cỏ. Đằng đẵng hơn mười năm trời đi ở, đến tuổi đôi mươi đi lấy chồng. Tưởng rằng lấy chồng cuộc đời bớt nỗi gian truân nhưng gia đình nhà chồng cũng chẳng hơn già. Nhà nghèo, bố già, con nhỏ. Mẹ gánh vác giang sơn nhà chồng, tần tảo làm lụng nuôi năm bảy miệng ăn. Niềm vui đến với mẹ. Đó là cậu con trai đầu lòng ra đời, sau này là liệt sĩ Nguyễn Văn Mầm. Nhưng oái ăm thay năm Ất Dậu, cái đói đã được ghi vào sử sách, gia đình mẹ vốn nghèo, nay thêm miệng ăn, mẹ là trụ cột trong nhà lại ở cữ, nên khó khăn chồng chất khó khăn. Để cứu cả nhà khỏi cảnh chết đói, mẹ đã phải lang bạt lên vùng Hải Dương xin ăn, làm thuê, làm mướn, tần tảo nuôi chồng, nuôi con. Cách mạng tháng Tám năm 1945 làm cuộc đời mẹ thay đổi. Dù còn khó khăn, thiếu thốn trăm bề, nhưng không còn cảnh cầu bơ, cầu bất xin ăn. Mẹ tích cực tham gia sản xuất và tham gia hoạt động xã hội. Ba năm sau cậu con trai thứ hai ra đời, sau này là liệt sĩ Nguyễn Văn Bé. Mẹ là hội viên tích cực của hội phụ nữ thôn, cùng với nhiều chị em trong thôn, trong xã làm công tác địch vận và quyên góp vật liệu, tiền gạo để giúp những gia đình bị bom giặc Pháp. Gia đình mẹ thường xuyên có cán bộ, bộ đội về nằm vùng hoạt động. cũng như bao gia đình quê hương Tân Liên, gia đình mẹ có những đóng góp xứng đáng cho thắng lợi của cuộc kháng chiến. Các con trai của mẹ cũng lớn khôn dần cùng với sự đổi thay của quê hương, đất nước. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, năm 1963, con trai lớn của mẹ lên đường nhập ngũ. Năm 1965, cuộc chiến tranh ngày thêm ác liệt. Theo chính sách Nguyễn Văn Bé có thể yên tâm học hành, nhưng mẹ vẫn đồng ý và động viên người con thứ, mới 17 tuổi, tình nguyện theo chân người anh vào quân ngũ. Hai anh em Nguyễn Văn Mầm và Nguyễn Văn Bé lần lượt vào chiến trường. Hai con ở ngoài mặt trận, ở nhà chỉ còn lại hai vợ chồng già. Cứ nghe tiếng bom giặc, lòng mẹ lại cồn cào, thổn thức lo cho các con. Mẹ mong sao bom đạn ác nhân, ác đức đó đừng phạm vào ai, trong đó có các con của mẹ. Năm 1971, tin dữ lần lượt theo về. Cả hai con của mẹ đều hy sinh ở mặt trận phía Nam mà mẹ chẳng hề gặp lại. Các con mẹ ra đi lần đầu và cũng là lần cuối, không một ngày phép. Người con út của mẹ cũng chẳng có được tấm ảnh để thờ. Mẹ phải thờ con bằng những dòng chữ ghi họ tên - ngày sinh - ngày mất. Nỗi đau nào bằng nỗi đau người mẹ mất con. Lúc ấy tưởng mẹ gục ngã không thể vượt qua được. Nhưng mẹ dồn nén lại, nuốt nước mắt vào trong, động viên chồng cùng nhau chung sức, chung lòng chăm lo ruộng lúa, luống khoai. Năm 1974, mẹ đã từng khóc thương các con, nay lại khóc tiễn đưa chồng về nơi quá cố. Mất chồng, mất con, đời mẹ cô đơn. Nhưng mẹ nghĩ các con của mẹ hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Mẹ có quyền tự hào về sự hy sinh đó, cùng các chị em phụ nữ khác động viên con em trong thôn xóm lên đường bảo vệ Tổ quốc. Trong lao động, mẹ luôn là xã viên tiêu biểu. Mừng ngày giải phóng miền Nam, Đại hội phụ nữ thành phố, mẹ được mời ngồi Chủ tịch đoàn danh dự. Khi được nghe mẹ kể về đời tư và công lao của mẹ, bà Nguyễn Thị Thập, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, đã ôm lấy mẹ mà khóc vì cảm động. Khi công việc đồng áng, việc xóm làng hết ngày, đêm về tĩnh mịch, lúc đó hình ảnh của các con lại hiện trong trí nhớ, làm mẹ da diết nhớ thương. Thân một mình, kinh tế vô cùng khó khăn, thiếu thốn nhưng mẹ chẳng chút phàn nàn. Chính quyền, đoàn thể, nhân dân, địa phương quan tâm chăm sóc mẹ và tặng mẹ ngôi nhà tình nghĩa. Hàng ngày các cháu học sinh, thiếu nhi thường đến với mẹ, bà con làng xóm đến với mẹ, làm cho mẹ vui thêm, xóa đi nỗi nỗi quạnh hưu, cô đơn của mẹ. Mẹ đã già nhưng vẫn luôn là người Mẹ nhân hậu, cần cù, tần tảo sớm hôm. Lời tâm sự của mẹ đã nói lên tất cả: “Tất cả những gì mẹ được hưởng ngày hôm nay là nhờ bà con làng xóm, nhờ Đảng, nhờ chính quyền các cấp. Đời mẹ làm lụng vất vả nhiều rồi nhưng có gì đâu. Mẹ chỉ sinh ra Mầm và Bé, nuôi dạy chúng khôn lớn, biết hy sinh thân mình cho hạnh phúc của nhân dân”.



