Nghị lực vươn lên của người lính già
Gần 40 năm qua, trên giải đất hình chữ S của dân tộc Việt Nam đã không còn tiếng bom cày đạn xới. Nhưng những dư âm của nó thì vẫn cứ âm ỉ theo thời gian. Đây đó, còn rất nhiều người lính đang từng ngày, từng giờ chiến đấu với những hậu quả mà chiến tranh để lại. 24 năm, đó là khoảng thời gian mà anh hùng Nguyễn Hữu Ngoãn (Thanh Trạch, Bố Trạch) phải chống chọi với những vết thương, di chứng của chiến tranh.
Gần 40 năm qua, trên giải đất hình chữ S của dân tộc Việt Nam đã không còn tiếng bom cày đạn xới. Nhưng những dư âm của nó thì vẫn cứ âm ỉ theo thời gian. Đây đó, còn rất nhiều người lính đang từng ngày, từng giờ chiến đấu với những hậu quả mà chiến tranh để lại. 24 năm, đó là khoảng thời gian mà anh hùng Nguyễn Hữu Ngoãn (Thanh Trạch, Bố Trạch) phải chống chọi với những vết thương, di chứng của chiến tranh.
24 năm, chưa một ngày nào ông được sống như những người bình thường khác, cũng đồng nghĩa với những vất vả mà bà Nguyễn Thị Gái (vợ ông) phải gánh chịu. Bà Gái kể lại: Khi tròn 20 tuổi, chồng tôi tình nguyện lên đường nhập ngũ và được biên chế vào C3, D9 pháo 37 Tỉnh đội Quảng Bình. Sau một thời gian huấn luyện, ông được giao nhiệm vụ làm pháo thủ số 2 (pháo cao xạ).
Là một người lính pháo binh trực tiếp đối mặt với nguy hiểm nhưng ông luôn luôn xác định tư tưởng sống, chết cũng phải bám lấy pháo. Năm 1965 giặc mỹ bắn phá rất ác liệt. Cùng với đánh phá các mục tiêu quân sự, giao thông vận tải, không quân Mỹ đã đánh vào các mục tiêu kinh tế như nhà máy, xí nghiệp, lò vôi, lò gạch, lò ngói, các công trình thuỷ lợi. Hồ chứa nước Cẩm Ly là trọng điểm bị đánh phá liên tục, vô cùng ác liệt . Trong trận đánh bảo vệ đập Cẩm Ly (Lệ Thủy), ông cùng 6 đồng chí trên mâm pháo bị trọng thương. Sau chiến công vẻ vang này, năm 1967, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân"".
Trong trận chiến một mất một còn ấy, ông Ngoãn bị chấn thương ở đầu, gãy tay trái và tổn thương phần mềm chân phải. Những tưởng sau trận đánh ác liệt này ông không thể tiếp tục tham gia chiến đấu, nhưng với nghị lực phi thường của người lính, sau một thời gian điều trị ông lại tiếp tục cuộc đời quân ngũ. Ông nghĩ, còn một chút sức lực thì cũng phải cống hiến cho quê hương, cho đất nước. Đến năm 1985, trong một lần đi làm nhiệm vụ ở Cà Ròong (Thượng Trạch), ông bị sốt rét ác tính thể não. Ông được chuyển về Bệnh viện 108 điều trị trong thời gian khá dài và sau đó nghỉ hưu với quân hàm trung tá.
Những năm đầu mới về với gia đình, ông không thể nói được và chỉ nằm một chỗ. Vợ ông đang làm y tá ở Bệnh viện Quân khu 4 cũng xin nghỉ để ở nhà tiện chăm sóc cho ông. Gánh nặng gia đình đè nặng lên đôi vai gầy của người phụ nữ. Bà Gái trở thành trụ cột trong gia đình. Với đồng lương hưu của ông và 2 sào ruộng, một mình bà phải chèo chống nuôi bốn đứa con nhỏ và lo cho chồng.
Chính vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên việc học hành của những người con cũng không được đến nơi, đến chốn. Người con út cũng chỉ học được đến lớp 9. Khi ông đau ốm, bà không quản ngại vất vả chạy chữa thuốc men khắp nơi. Mọi sinh hoạt cá nhân của ông đều một tay bà phục vụ. ""Những ngày bình thường còn đỡ chứ những ngày trái gió trở trời ông vật vã với cơn đau do vết thương cũ tái phát, không ăn uống được gì, chân tay run rẩy. Có lúc đau quá ông la hét rồi nằm khóc"" - bà Gái kể lại trong nước mắt.
Nhưng ý chí của người lính không cho phép ông lùi bước trước thử thách của cuộc sống. Ông luôn đấu tranh với bệnh tật để giành giật lấy sự sống. Bởi hơn ai hết ông hiểu được giá trị của những ngày hòa bình. Được sự quan tâm của Đảng, nhà nước, sự động viên của mọi người, sự chăm sóc của vợ con cùng với sự nỗ lực của bản thân nên bệnh tình của ông cũng dần đỡ được phần nào.
Hiện nay ông đã có thể tự đi lại và nói được một số từ mặc dù không rõ lắm. Thỉnh thoảng ông cũng tham gia một số buổi gặp mặt với đồng đội cũ và các chiến sĩ quân đội. Ai cũng khâm phục nghị lực vươn lên của ông. Giờ đây con cái của ông cũng đã trưởng thành và xây dựng gia đình riêng. Trong nhà lúc nào cũng rộn rã tiếng cười đùa của lũ trẻ."


