Nghiêm Đình Tích — người tìm thấy B-52 giữa những dải nhiễu
Từ một máy thu ít nhiễu nhất và góc ăng-ten âm 7,5 độ, Đài trưởng radar Nghiêm Đình Tích cùng đồng đội xây dựng cách phát hiện B-52, báo động cho Hà Nội trước 35 đến 40 phút trong tháng 12-1972.
18 giờ 30 phút ngày 18-12-1972, tại Đô Lương, Nghệ An, Thượng sĩ, Đài trưởng radar Nghiêm Đình Tích cùng hai trắc thủ mở máy. Trên màn hiện sóng, những dải nhiễu đậm đặc bỗng nhạt đi và mỗi dải xuất hiện ba chấm sáng. Gần chục tốp B-52 đang từ hướng Vientiane, dọc sông Mê Công bay vào Việt Nam. Tốp xa nhất còn cách trận địa hơn 200 km. Kíp trực báo cáo mục tiêu; khi máy bay qua vĩ tuyến 20, họ khẳng định B-52 sẽ đánh Hà Nội. Tin được chuyển tới Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri rồi Tổng hành dinh, giúp toàn bộ lực lượng phòng không báo động khi đối phương còn cách Thủ đô khoảng 35 phút bay.
Nghiêm Đình Tích sinh năm 1946 tại xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa, Hà Nội. Tháng 8-1964, sau khi tốt nghiệp phổ thông hệ 10 năm, ông nhập ngũ vào Trung đoàn 260, Quân chủng Phòng không-Không quân. Đầu năm 1965, ông học radar P-35; tháng 8 cùng năm, khi mới mang quân hàm hạ sĩ, ông về Đại đội 45 radar dẫn đường và đảm nhiệm vị trí đài trưởng. Người lính radar làm việc trong buồng máy tối, nhìn những tín hiệu nhỏ trên màn hình, nhưng quyết định của họ ảnh hưởng trực tiếp đến phi công và các đơn vị tên lửa ngoài trận địa.
Năm 1966, Đại đội 45 dẫn đường cho không quân đánh máy bay trinh sát tầm cao và máy bay không người lái. Năm 1967, đơn vị góp phần dẫn đường để máy bay MiG bắn rơi 90 máy bay đối phương. Tháng 11-1967, Mỹ dùng EB-66 gây nhiễu từ xa, kết hợp máy phát vô tuyến với sợi giấy bạc khiến radar khó xác định mục tiêu. Từ kinh nghiệm tích lũy trong các năm 1965-1967, Nghiêm Đình Tích và đồng đội tìm được tọa độ máy bay gây nhiễu. Ngày 19-11-1967, kíp của ông trợ giúp sĩ quan dẫn đường cho biên đội MiG-21 gồm Vũ Ngọc Đỉnh và Nguyễn Đăng Kính bắn rơi một EB-66 ở phía tây Thanh Hóa.
Cuối năm 1969, Đại đội 45 cơ động vào Nghệ An, thuộc Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 290, bảo đảm dẫn đường cho không quân từ sân bay Vinh và Anh Sơn đánh B-52, AC-130. B-52 được nhiều máy bay chiến thuật bảo vệ và gây nhiễu mạnh. Khi cả sáu máy thu đưa tín hiệu lên màn hình, dải nhiễu phủ kín, hầu như không thể thấy mục tiêu. Sau nhiều đêm quan sát, Nghiêm Đình Tích nhận ra máy thu số 5 nối với ăng-ten trên bị nhiễu nhẹ nhất. Ông quyết định chỉ dùng máy này, loại tín hiệu năm máy còn lại khỏi màn hình và cho ăng-ten chúc xuống góc âm 7,5 độ. Những dải nhiễu mờ đi; ba chấm sáng của đội hình B-52 hiện ra.
Từ phát hiện ấy, Đại đội 45 cùng Binh chủng Ra-đa hoàn chỉnh quy trình chống nhiễu và phát hiện B-52. Đêm 20-11-1971, Đại đội 45 phối hợp Đại đội 41 dẫn đường để phi công Vũ Đình Rạng bắn bị thương một B-52. Đêm 22-11-1972, đơn vị cung cấp tình báo cho Trung đoàn Tên lửa 263 bắn rơi tại chỗ một B-52 gần biên giới Lào-Thái Lan. Những kết quả thực tế chứng minh ba chấm sáng không phải nhiễu giả và phương pháp lọc tín hiệu có thể dùng trong chiến đấu.
Đầu tháng 11-1972, Đại đội 45 được giữ lại Nghệ An và bổ sung vào Trung đoàn 291. Vị trí này nằm bên sườn các dải nhiễu, thuận lợi quan sát hai hướng B-52 có thể vào Hà Nội: từ Guam qua Biển Đông và từ sân bay Utapao ở Thái Lan qua Lào. Trận địa cũng ít bị tên lửa Shrike đánh phá hơn. Trong chiến dịch tháng 12, kíp radar liên tục báo sớm. Đêm đầu, lực lượng phòng không bắn rơi tám máy bay, trong đó có ba B-52. Đêm 20-12, tên lửa bắn rơi bảy B-52; đêm 26-12, ta bắn rơi 18 máy bay các loại, gồm tám B-52.
Công việc của Nghiêm Đình Tích không tạo ra quầng lửa ngay trước mắt. Ông và các trắc thủ chỉ nhìn chấm sáng, đo phương vị, cự ly rồi báo cáo qua đường dây. Nếu nhận định sai, báo động có thể quá sớm hoặc quá muộn; nếu chần chừ, máy bay sẽ rút ngắn hàng chục kilômét. Những lần cấp trên hỏi lại, ông vẫn bình tĩnh khẳng định hướng bay dựa trên diễn biến tín hiệu. Vì thế đồng đội gọi những người radar là “anh hùng buồng tối”: họ chiến đấu trong không gian kín nhưng giúp cả bầu trời không bị bất ngờ.
Sau chiến tranh, Nghiêm Đình Tích mang quân hàm đại tá và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Câu chuyện của ông cho thấy chiến thắng không chỉ đến từ vũ khí mà còn từ năng lực quan sát và dám chịu trách nhiệm. Một lựa chọn kỹ thuật rất cụ thể—máy thu số 5, góc ăng-ten âm 7,5 độ—đã giúp phân biệt B-52 trong biển nhiễu. Từ màn hình tối ở Nghệ An, tin báo vượt hơn 200 km để Hà Nội có thêm 35 đến 40 phút chuẩn bị, một khoảng thời gian ngắn trên đồng hồ nhưng có ý nghĩa sống còn đối với cả hệ thống phòng không.



