NGHIÊN CỨU VÀ HUẤN LUYỆN
Sau khi sức khoẻ hồi phục, tác giả được giao làm Hiệu trưởng Trường Quân chính trung cấp tại Bắc Sơn (1954), rồi tham gia xây dựng và phát triển nhà trường qua nhiều lần di chuyển, đến khi hình thành Học viện Quân sự (sau là Học viện Quân chính). Nhà trường từng bước đi vào chính quy, đào tạo cán bộ trung, cao cấp cả về quân sự và chính trị; chú trọng nguyên lý “lý luận gắn liền thực tiễn”, tổ chức nhiều cuộc diễn tập thực binh, xây dựng đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm chiến đấu. Tuy còn thiếu
Thời gian ở Khu 4, sức khoẻ của tôi có phần giảm sút phải đi điều trị một thời gian ngắn ở bệnh viện. Sức khoẻ bình phục, từ bệnh viện trở về đơn ví cũ, thủ trưởng Bộ Quốc phòng phân công tôi làm hiệu trưởng trường Quân chính trung cấp. Trường này vừa mới được thành lập xong trên cơ sở của trường bổ túc quân chính sơ cấp (theo quyết định của Tổng Quân uỷ tháng 4 năm 1954). Đúng vào lúc đất nước còn đang chiến tranh nên phải lấy địa điểm Bắc Sơn làm địa bàn xây dựng trường.
Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi cùng anh Đỗ Hạp, cán bộ của phòng quân sự và một số chiến sĩ cần vụ, mỗi người một xe đạp, một bi đông nước chè xanh đi tìm địa điểm mới cho trường. Sau nhiều ngày lặn lội tìm kiếm, chúng tôi đã tìm được nơi đóng quân phù hợp. Đầu tháng 5 năm 1954, nhà trường dời đến địa điểm mới trong khu rừng xã Tân Hương, huyện Bắc Sơn. Vốn là một trong những căn cứ cách mạng trong những ngày đầu khởi nghĩa, nơi đây là vị trí an toàn, có địa hình tốt để làm thao trường, bãi tập, nhất là lại có con đường 1B mà chúng ta mới làm xong, chạy từ Thái Nguyên qua Bắc Sơn đến Đồng Đăng, nên việc đi lại khá thuận lợi. Con đường này một thời đã được anh Tố Hữu tả bằng thơ rất đỗi tự hào, khoẻ khoắn:
Đường ta rộng thênh thang tám thước
Đường Bắc Sơn, Đình Cả, Thái Nguyên
Đường qua Tây Bắc, đường lên Điện Biên
Đường Cách mạng dài theo kháng chiến...
Lúc đầu, mọi việc hầu như còn mới lạ hoàn toàn, "thầy trò" chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, nhưng rồi cũng nhanh chóng vượt qua được. Điều đó cũng dễ hiểu bởi nhân dân Bắc Sơn phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số lại là quê hương của phong trào cách mạng. Được đồng bào 5 xã Tân Hương, Tân Lập, Vu Lăng, Nhất Hoà, Nhất Thế hết sức giúp đỡ, và sau một thời gian lao động vất vả xây dựng trường sở, chúng tôi đã sớm có nơi ăn ở và học tập khá tốt. Lúc ấy, bộ đội đi đến đâu, ở đâu cũng có nhiều ấn tượng tốt với dân, bằng nhiều hình thức phong phú như giúp đỡ nhân dân học tập văn hoá, cùng với thanh niên và nhân dân địa phương tổ chức các phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao. Các cuộc thi chạy, đá bóng với thanh niên địa phương, những đêm văn nghệ "lửa trại" với nhân dân lúc ấy vui vẻ, trẻ trung và đầm ấm lắm.
Qua đây, chất keo đoàn kết đã và bền chặt nhân dân với bộ đội, nhà trường với chính quyền địa phương. Cả học viên và giáo viên chúng tôi lúc đó còn trẻ lắm, nên ai cũng hồn nhiên sôi nổi, thích thú và hưởng ứng các hoạt động mang tính chất bề nổi này. Trường của chúng tôi huấn luyện cán bộ trung cấp, lúc đầu còn ít cán bộ, giáo viên nhưng sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thì Bộ lại điều về đây nhiều cán bộ mới, có nhiều kinh nghiệm thực tế để làm giáo viên, nên lực lượng giáo viên đã được tăng cường khá mạnh. Lúc bấy giờ giáo viên dạy các bộ môn chính trị là anh Hoàng Phương (anh Hoàng Phương là Trưởng phòng chính trị, kiêm chính uỷ nhà trường), anh Lê Linh, anh Mạc Ninh... còn cán bộ giảng dạy quân sự có các anh Lê Ngọc Hiền, Minh Văn, Hồ Quang Hoá, Nguyễn Năng, Hùng Sinh (anh Hùng Sinh là trưởng phòng quân sự, anh Nguyễn Năng là phó phòng quân sự) và nhiều đồng chí khác nữa. Sau này, nhiều anh em trong số chúng tôi, kể cả học viên và giáo viên của trường đã là những cán bộ cao cấp, cán bộ chủ chốt của quân đội ta.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Bộ có tăng cường cho nhà trường các chuyên gia Trung Quốc cả quân sự và chính trị. Nói là trường trung cấp quân sự, nhưng trường huấn luyện cả hai hệ: chính trị và quân sự. Anh em học viên là cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn. Bấy giờ môn chính trị cũng được huấn luyện tương đối kỹ, ngoài việc huấn luyện những lý luận cơ bản ra, nhà trường còn rất chú trọng đến môn công tác Đảng - công tác chính trị.
Trong số anh em học viên của trường lúc bấy giờ có đồng chí Huỳnh Văn Nghệ, ở miền Nam ra học, chế độ huấn luyện của nhà trường đã bắt đầu mang tính chính quy ăn ở nền nếp gọn gàng tuy là nhà tranh, nhà lá thôi. Vì chỉ quen với khí hậu miền Nam - ấm, mát quanh năm nên anh Nghệ không chịu được cái rét của miền núi, thực tế đó buộc nhà trường phải chấp nhận riêng đồng chí này thì mùa rét được phép để trong phòng ở một đống củi để đốt lửa sưởi suốt ngày đêm. Ai cũng phải thừa nhận đó là sự quan tâm chu đáo của nhà trường, không vì nguyên tắc chế độ chính quy mà tỏ ra cứng nhắc trong việc xử lý những trường hợp cụ thể, đặc biệt như thế.
Đây là một khoá học có quy mô và chất lượng nhất từ ngày thành lập trường bổ túc quân chính đến nay, từ việc tổ chức cơ quan, đội ngũ giáo viên gồm nhiều cán bộ đã chỉ huy lãnh đạo chiến đấu nhiều năm, giàu kinh nghiệm được điều động từ nhiều đơn vị chủ lực về.
Cùng với việc kết thúc khoá học đầu tiên là quân và dân ta giành thắng lợi to lớn, quyết định trên chiến trường Điện Biên Phủ, hoà bình được lập lại ở miền Bắc thì trường lại được lệnh về vùng xuôi - Kim Đái - Sơn Tây.
Nội dung huấn luyện trong thời gian này có thêm một lớp tập huấn cho cán bộ, có cả cán bộ cao cấp như anh Đồng Sĩ Nguyên, anh Hoàng Sâm. Ngoài huấn luyện chung còn huấn luyện cả đội ngũ theo hướng quân đội chính quy. Chưa được "nóng chỗ" trường lại phải chuyển đến địa điểm mới, đó là khu Quần Ngựa - Hà Nội. Ngoài lớp đào tạo ra, trường vẫn tiếp tục mở một lớp tập huấn gồm cả cán bộ cao cấp, lớp này có những cán bộ cao cấp như anh Giáp Văn Cương (nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân), anh Phạm Hồng Sơn (phó viện trưởng Viện Chiến lược quân sự), anh Nguyễn Hoà ...
Với nội dung huấn luyện đó, tháng 5 năm 1955 Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết định thành lập trường Bổ túc quân sự trung cao cấp. Anh Văn Tiến Dũng lúc đó là Tổng Tham mưu trưởng được trên phân công kiêm hiệu trưởng nhà trường, và tôi là phó hiệu trưởng. Chẳng được bao lâu trường lại chuyển về quận Ba Đình (trường An Be Sa Rô của Pháp nằm trên đường Hùng Vương và Hoàng Văn Thụ). Và rồi trường lại chuyển về Bạch Mai, lần này trường lại đổi tên thành Học viện Quân sự và Bộ phân công tôi làm Viện trưởng, anh Minh Vân làm phó viện trưởng. So với các địa điểm mà trường ở trước đây, thì Bạch Mai là nơi ở khá ổn định và lâu dài thuận lợi hơn cả.
Vì vậy nhà trường có điều kiện để thực hiện việc tăng gia sản xuất, trồng rau xanh cải thiện đời sống. Việc thực hiện các chế độ nền nếp tác phong của nhà trường chính quy cũng được mọi người chấp hành nghiêm chỉnh. Không khí thi đua trong giảng dạy, học tập, công tác, phục vụ rất sôi nổi. Bộ phận cấp dưỡng có khẩu hiệu "ba nóng, năm ngon, bốn sạch" được duy trì rất nghiêm túc.
Nội dung huấn luyện chủ yếu của Học viện là cấp Trung đoàn, Sư đoàn, huấn luyện cả chính trị và quân sự, nhưng quân sự là chính vì lúc đó ta đã thành lập Học viện chính trị riêng rồi. Về cơ cấu tổ chức của trường lúc này cũng khá hoàn chỉnh, gần như đã thành lập hầu hết các khoa như Học viện quân sự cấp cao sau này. Lúc ấy ngoài các khoa cơ bản như chiến thuật và các khoa binh chủng, tổ quân chủng, lần đầu tiên có tổ chức thêm 3 khoa mới: Đó là khoa đường lối quân sự, khoa quân sự địa phương và khoa lịch sử quân sự.
Những khó khăn của công tác nhà trường trong bước đi ban đầu là tất yếu. Phương pháp huấn luyện, phương pháp sư phạm, cơ sở vật chất đảm bảo huấn luyện, đó là những khó khăn cơ bản, mục tiêu nhà trường phải tháo gỡ, mà phần nào anh em giáo viên ta sớm tránh khỏi bỡ ngỡ ban đầu.
Song, thật khiếm khuyết, nếu quên đi những nỗ lực chủ quan của tập thể cán bộ giáo viên Học viện. Đội ngũ này còn khá trẻ, hầu hết họ đều chưa có gia đình, rất hăng hái nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao. Những khó khăn vừa nói ở trên cũng như khó khăn trong việc dịch các tài liệu do chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc cung cấp và biên soạn tài liệu giảng dạy đã dần dần được khắc phục.
Có đồng chí trước khi lên lớp vài ngày đã một mình đóng cửa buồng làm việc của mình để tự giảng, tập giảng. Chúng ta thử tưởng tượng xem: một mình anh ấy đi đi lại lại tiếng nói lúc trầm lúc bổng, lúc đều đều, lúc nhấn mạnh... một cách trách nhiệm, tự giác để đạt đến nội dung lên lớp gần như học thuộc lòng. Đó chính là thái độ lao động nghiêm túc để đưa kiến thức vào bộ não của mình.
Giờ đây, mỗi khi nhớ lại những ngày ấy, chúng tôi thật sung sướng tự hào, nếu không có những tháng năm như vậy đâu có được sự trưởng thành như hôm nay.
| Cũng cần phải nói thêm là học viên của Học viện phần lớn là cán bộ trung cấp, nên đó cũng là động lực thúc đẩy anh em giáo viên phải cố gắng rất nhiều. Với tinh thần trách nhiệm cao, tinh thần phấn khởi học tập, nghiên cứu nên họ đã hoàn thành được nhiệm vụ đặt ra. Nổi lên trong số giáo viên lúc đó, chúng tôi còn nhớ mãi anh Hoàng Đan, một con người vui tính, nhưng khá mạnh dạn sôi nổi trong giảng dạy. Cho đến khi, trên các cương vị cao trong quân đội anh vẫn giữ tác phong giản dị, tính tình vui vẻ đó. Trong nội dung huấn luyện giảng dạy của Học viện, lúc đó đã chú trọng trong việc học tập kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Pháp, tiếp thu thành tựu của nền khoa học nghệ thuật quân sự Xô viết, đồng thời học tập kinh nghiệm của cuộc chiến tranh ở miền Nam trong thời kỳ Mỹ - Nguy thực hiện cuộc chiến tranh đặc biệt. Vì vậy, các đồng chí như đồng chí Trần Văn Quang (thượng tướng, nguyên thứ trưởng Bộ Quốc phòng) và nhiều cán bộ đã chiến đấu ở miền Nam ra, được Học viện mời đến báo cáo kinh nghiệm chiến đấu cho cả học viên, giáo viên và cán bộ nhà trường nghe. Những kinh nghiệm thực tiễn đó làm sáng tỏ rất nhiều lý luận mà nhà trường đã giảng dạy, qua đó rút kinh nghiệm kịp thời, bổ sung cho giáo trình tài liệu giảng dạy của Học viện. Có một kinh nghiệm muôn thuở, đó là lý luận phải gắn liền với thực tiễn, học phải đi đôi với hành. Điều ấy, được phản ánh qua những đợt diễn tập thực binh khá tốt, do Học viện tổ chức. Trong một lần diễn tập thực binh, Học viện đã lấy Trung đoàn 209 của Sư đoàn 312 làm đơn vị thực hành. Đơn vị hành quân từ Phổ Yên (Bắc Thái) - Thái Nguyên qua Đèo Khế, vòng về Lập Thạch qua thị xã Vĩnh Yên đánh vào công sự vững chắc của địch ở chân núi Tam Đảo. "Trận chiến đấu” đó thu được kết quả khá tốt. Nó chứng tỏ phương pháp đưa học viên vào các vị trí chỉ huy, tổ chức hành quân đường dài, trong quá trình thực hành tác chiến có cán bộ của Trung đoàn thực binh giám sát chặt chẽ là phương pháp rất tốt để nâng trình độ của cán bộ, học viên. Có một lần trong diễn tập thực binh, chúng tôi phải làm gấp một con đường quân sự để cho cả pháo binh cơ giới, xe tăng đi. Con đường ấy chạy từ chân núi Tam Đảo đến Bá Vân qua đèo Nhe, đánh sang quân địch ở Bá Vân phía bắc chân núi Tam Đảo. Bộ đội làm con đường này, được nhân dân hai tỉnh Vĩnh Yên và Thái Nguyên rất hoan nghênh và ủng hộ. Nó vừa là con đường phục vụ cho diễn tập thực binh vừa là con đường rất thuận lợi cho nhân dân hai tỉnh đi lại không phải đi vòng khá xa. Trong chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đã từng biết bao con đường như thế ra đời, nó mang nhiều ý nghĩa không chỉ là quân sự mà cả chính trị, kinh tế rất lớn lao. Có một lần khác, trong đợt diễn tập làm đường quân sự làm gấp ở Hải Dương, Kiến An, chỉ huy đơn vị ra lệnh cho 2 xe ủi đi trước mở đường cho pháo binh cơ giới đi tiếp Không ngờ, trên trục đường đó đơn vị phải đi qua một cái cầu gỗ trông có vẻ không được chắc chắn lắm. Vì thế, anh Hoàng Đan phải cùng với mấy đồng chí cán bộ, giáo viên công binh và vài chiến sĩ lái xe đi "tiền trạm". Đến nơi, anh Hoàng Đan nghĩ ra một kế khá táo bạo: cho mấy chiến sĩ chạy nhảy trên cầu và giáo viên công binh xem xét khảo sát kỹ các dầm cầu chân cầu, thấy chiếc cầu không hề rung gì cả, thế là chỉ huy đơn vị quyết định cho xe ủi đi qua trước, quả nhiên là xe ủi đi qua được. Khi đơn vị hành quân qua an toàn, ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm, bởi sự quyết đoán dựa trên tính toán rất thô sơ như thế. Bắt đầu từ năm 1954 Trường bổ túc quân sự trung cao cấp đã mời cố vấn Trung Quốc sang giúp đỡ. Và sau đó các thời kỳ đều có cố vấn Trung Quốc và Liên Xô giúp đỡ. Mùa hè năm 1957, anh Hoàng Văn Thái, anh Vương Thừa Vũ cùng với tôi đi tham quan diễn tập của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc ở Tô Châu. Ở đấy chúng tôi thấy có cả chuyên gia cố vấn Liên Xô. Diễn tập và tập trận là điều rất cần thiết cho một quân đội thường trực, để luôn luôn có khả năng hiệp đồng và sẵn sàng chiến đấu. Mong sao sau này khi có điều kiện quân đội ta cũng làm được như vậy. Tại cuộc chiêu đãi của Bộ Tổng tham mưu ở Khách sạn Thái Hồ, khi ngồi bên bờ Thái Hồ, đồng chí Trung Quốc có kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện rằng: Đây là nơi Tây Thi đã từng ở, trên núi có giếng gương soi của Tây Thi cạnh đồn Cô Tô. Việt Vương Câu Tiễn sau khi đánh bại Phù Sai, thì Phạm Lãi đã cùng Tây Thi dùng thuyền bỏ trốn ở trên hồ này. Thái Hồ là một cái hồ rất rộng, chung quanh cây cối rậm rạp um tùm. Sau đó, vào năm 1960 trong dịp Nguyên soái Diệp Kiếm Anh sang thăm Việt Nam, ông đã đi thăm quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nghệ An. Đoàn đưa ông đi bằng máy bay, còn chúng tôi cũng đi theo sau nhưng bằng ô tô. Cùng đi với tôi có đồng chí người bạn Trung Quốc là Tướng Dương Thành Võ. Trên đường đi chúng tôi có nghỉ một chút dưới gốc đa bên đền thờ An Dương Vương ở Diễn Châu và nói chuyện vui. Sau này tôi mới được biết chính Tướng Dương Thành Võ là người trực tiếp tham gia bắt lũ bốn tên là Giang Thanh, Vương Hồng Văn, . ... Bây giờ có thời gian để suy ngẫm, chúng tôi mới thấy nếu giáo điều máy móc dập khuôn là hết sức nguy hiểm, hậu quả tác hại của nó là rất lớn khó mà lường trước được Bài học đó không chỉ cảnh tỉnh giới quân sự mà còn với mọi lĩnh vực khác của xã hội ta trước kia và cả ngày nay và thực tế chiến trường cũng phải vận dụng theo điều kiện thực tế của chiến tranh. |


