Ngô Gia Khảm
Ngô Gia Khảmsinh năm 1912 trong một gia đình bần nông ở xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Cha ông mất sớm khi ông mới 18 tháng tuổi, mẹ đi lấy chồng, ông ở với người cậu ở Hải Phòng. Năm 16 tuổi, ông xin vào học việc ở nhà máy Gia Lâm và trở thành một công nhân thợ nguội, và chứng kiến cảnh công nhân bị áp bức bóc lột tàn nhẫn, dần dần ông được giác ngộ cách mạng và tham gia phong trào đấu tranh đòi tự do và cơm áo. Năm 1938 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và tích cực tham gia trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân.
Năm 1941, sau một cuộc tranh đấu lớn ở nhà máy Gia Lâm, ông cùng nhiều đồng chí khác bị giặc bắt cầm tù và đầy đi ở Sơn La. Năm 1944, giữa lúc cuộc đấu tranh giành chính quyền của nhân dân ta đang diễn ra hết sức quyết liệt, ông được Tổng bộ Việt Minh giao cho việc sản xuất vũ khí cung cấp cho Giải phóng quân Việt Nam mới thành lập. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ và đoàn thể giao cho ông thành lập xưởng hóa chất đầu tiên ở Việt Bắc để nhồi đạn và các thứ vũ khí khác. Trước những nhiệm vụ cao cả, ông luôn tự nhủ và đã dồn hết sức lực của mình phục vụ kháng chiến vì lý tưởng của Đảng, vì cuộc sống của nhân dân.
Ngô Gia Khảm được tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý như: Chiến sĩ lao động toàn quốc và tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì (1950), Huân chương Lao động hạng nhì (1951), chiến sĩ số một của ngành công nghiệp, và được cử đi dự Đại hội liên hoan chiến sĩ toàn quốc tại Việt Bắc (năm 1952).
Tại “Đại hội Toàn quốc các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu” được tổ chức tại Việt Bắc từ ngày 30.4 đến ngày 06.5.1952, ông đã tự thuật thành tích của mình trong việc thực hiện những nhiệm vụ được giao. Bài tự thuật thành tích của ông đã được đoàn thư ký Đại hội đánh máy đầy đủ, chi tiết trong tập “Biên bản” của Đại hội và hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Bộ Lao động, hồ sơ 432(1). Đây là một tài liệu quý, hiếm không chỉ ghi chép toàn bộ diễn biến của Đại hội mà còn là những ký ức, kỷ niệm không thể nào quên của các cá nhân chiến sĩ thi đua và đại biểu tham dự Đại hội.
Nhớ về nhiệm vụ sản xuất vũ khí cung cấp cho bộ đội, khi bắt tay thực hiện trong điều kiện hết sức khó khăn, nguyên vật liệu, máy móc thiếu, kinh nghiệm chưa có, ông kể “Lúc đầu, chúng tôi lúng túng quá không biết làm lựu đạn thế nào cả, khi thì dự định làm cách này, khi dự định làm cách khác, thử đi, thử lại vẫn không có kết quả. Chúng tôi lấy thùng dầu để làm lò đúc. Thuốc nổ thì giã bằng chày cối như giã cua. Máy móc chỉ có một cái máy tiện cũ kỹ và chiếc bệ làm bằng thân cây, phì phà phì phò cả ngày. Chúng tôi mày mò mãi, sau mới lượm được một quả lựu đạn của Nhật, tháo ra lắp vào, xem cách làm như thế nào, sau đó mới chế ra được một số lựu đạn hình quả tim có chữ “VM” (Việt Minh). Quả lưu đạn đầu tiên chúng tôi sản xuất ra, dùng trong một trận phục kích tại chiến khu Hoàng Hoa Thám đã giết được 11 tên phát xít Nhật. Được tin này, anh em chúng tôi ở trong xưởng sướng quá, ôm lấy nhau phấn khởi và cảm động đến nỗi rơi nước mắt”(2).
Khi tiến hành lập xưởng hóa chất, “Tôi đã cố gắng tìm tòi pha hết chất này đến chất khác như một ông lang. Ít lâu, sau nhờ sự cộng tác, nghiên cứu của một số anh em, tôi đã tìm ra cách pha thuốc mồi nổ để làm hạt nổ đầu tiên. Sau đó tôi lại có sáng kiến chế ra máy dập mồi nổ đạn “DM” làm cho năng suất tăng từ 600 cái mỗi ngày lên đến 11000 rồi 14000 cái mỗi ngày. Tiếp đó tôi lại chế ra được máy cắt (thuốc quân bài) làm cho mức sản xuất tăng từ 5 lạng mỗi ngày lên đến 16 cân mỗi ngày. Nhờ vậy xưởng tôi đã cung cấp được một số đạn cho mặt trận Nam Bộ và Hải Phòng”(3).
Ngoài ra, ông còn nghiên cứu và pha chế các chất thuốc để làm mồi lửa, sản xuất vũ khí, đạn dược cung cấp cho cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta. Trong quá trình lao động, ông đã 3 lần bị tai nạn, 3 lần bị trọng thương, lần nặng nhất là “Một hôm, trong khi anh em đi ngủ, tôi đi xem lại chỗ sấy thuốc, than không có phải dùng củi, khi đến chỗ sấy, tôi thấy củi nổ lép bép, nhiều tàn lửa bay lên, tôi chạy vội vào định giơ hai tay để dập, nhưng khi vào đến nơi thì thùng thuốc bị nổ, tôi bị cháy sém hết mặt mũi chân tay. Anh em xô vào cứu tôi ra. Lần này tôi tưởng không thể sống được nữa, nhưng nhờ sự săn sóc chu đáo của anh em trong xưởng, 7 tháng sau tôi mới khỏi, tay bị cơ quắp, mặt mũi cháy sém như ngày nay. Có anh em thấy tôi tàn tật mà vẫn băn khoăn về công tác thì nói: anh đã vì phục vụ mà bị tàn tật thế này anh cứ yên tâm mà ở nhà nghỉ, anh không cần phải làm gì nữa. Đoàn thể, Chính phủ sẽ nuôi anh. Nhưng tôi chỉ lo nếu tàn tật không thể làm gì được nữa để phục vụ Đảng, phục vụ Nhân dân thì khổ sở quá. Tôi tự nghĩ, dù bị tàn tật nhưng vẫn còn sức phục vụ kháng chiến. Vì vậy, vào cuối năm 1947, giặc Pháp tấn công lên Việt Bắc, tôi tuy chưa khỏi hẳn, nhưng lại đề nghị với cục Quân giới cho ra nhận công tác”(4).
Trong những năm 1948 - 1950, ông cùng các đồng chí của ông đã xây dựng được 2 xưởng hóa chất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và đào tạo thợ mới.Trong mùa thi đua “Sản xuất lập công, đề cao chiến sĩ” năm 1951, xưởng hóa chất của ông phải chuyển sang làm quân sự, ông lại phát động anh em trong xưởng tích cực thi đua chuyển hướng công tác, chung toàn xưởng đã có 49 sáng kiến lớn nhỏ. Những sáng kiến của ông đã tiết kiệm được chi phí cho việc mua nguyên nhiên liệu, thời gian trong việc sản xuất, rèn đúc vũ khí.
Tại Đại hội, ông chia sẻ “nhìn lại quãng đời đấu tranh và xây dựng của tôi từ trước đến nay tôi rất lấy làm sung sướng vì đã làm được một phần nào nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân đã giao cho. Đảng bảo tôi phải vì quyền lợi của giai cấp, của dân tộc mà đấu tranh. Tôi đã hăng hái đấu tranh và dù có bị tù đầy, tra tấn tôi cũng giữ vững tinh thần và một lòng trung thành với Đảng, với giai cấp và dân tộc. Đảng bảo tôi phải vì cách mạng, vì kháng chiến mà sản xuất. Tôi đã nghe theo lời của Đảng, mặc dầu khó khăn, nguy hiểm đến đâu tôi cũng phải làm”(5).
Với ý chí cách mạng bền bỉ và biến thành hành động, có thể nói ông là tấm gương sáng để lớp lớp thế hệ người Việt Nam noi theo. Nói về thành tích thi đua của ông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét, khen ngợi: “Chúng ta vừa nghe chú Ngô Gia Khảm kể chuyện đúc lựu đạn, chắc là mọi người đều biết bộ đội giải phóng quân Việt Nam lúc bắt đầu tổ chức chỉ có 12 người. Viên lựu đạn đầu tiên của bộ đội ta, do Ngô Gia Khảm đúc. Có thể nói Ngô Gia Khảm đã xây dựng cái binh công xưởng đầu tiên của quân đội quốc gia Việt Nam”(6).
Một số chiến sĩ thi đua và đại biểu tại Đại hội đã hò ca ngợi:
“Nhớ quả lựu đạn đầu tiên
Mười một tên Nhật chết liền vì đâu
Anh Ngô Gia Khảm dẫn đầu
Cái công binh xưởng đầu tầu của nước Việt Nam
Anh đã quyết chí anh làm
Chúng ta theo gót đánh tan quân thù”.(7)
Có thể khẳng định rằng, thành tích thi đua lao động của ông đã góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển của ngành quân giới Việt Nam, phục vụ đắc lực cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp xâm lược, và là cơ sở, tiền đề phát triển khoa học kỹ thuật quân sự của nước nhà.



