Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

NGÔ HUY TĂNG – CHÀNG THANH NIÊN 17 TUỔI TREO LÁ CỜ ĐỎ GIỮA TRUNG TÂM VÙNG MỎ

Trong lịch sử phong trào công nhân và cách mạng Việt Nam, có những con người tuy tuổi đời ngắn ngủi nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm bằng lòng dũng cảm và niềm tin sắt son vào lý tưởng cách mạng. Ngô Huy Tăng là một trong những người như thế. Tên tuổi của anh gắn liền với sự kiện treo lá cờ đỏ búa liềm trên cầu trục Poóc-tích số 1 tại Cảng Cửa Ông năm 1929 – một hành động táo bạo đã trở thành biểu tượng của phong trào cách mạng vùng than Quảng Ninh.

An Giang06/06/2026Minh Triết (tổng hợp) (xã Long Kiến)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngô Huy Tăng sinh năm 1912 trong một gia đình nông dân nghèo ở Hưng Yên. Tuổi thơ của anh gắn liền với cuộc sống cơ cực dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Năm 1928, khi mới 16 tuổi, anh rời quê hương đến vùng mỏ Quảng Ninh làm thợ phụ tại xưởng cơ khí thuộc Nhà máy Sàng Cửa Ông – một trong những trung tâm khai thác, chế biến và xuất khẩu than lớn nhất Đông Dương lúc bấy giờ.

Đằng sau sự phồn thịnh của ngành khai thác than là cuộc sống vô cùng khắc nghiệt của hàng vạn công nhân mỏ. Người lao động phải làm việc trong môi trường nặng nhọc, nguy hiểm, đồng lương ít ỏi trong khi thường xuyên bị cai thầu, đốc công áp bức và bóc lột. Chính những bất công ấy đã sớm thức tỉnh tinh thần đấu tranh trong chàng thanh niên trẻ tuổi.

Cuối năm 1928, dưới sự giác ngộ của các cán bộ cách mạng hoạt động bí mật tại vùng than, Ngô Huy Tăng gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Ban ngày, anh vẫn lao động như một công nhân bình thường, nhưng khi màn đêm buông xuống, anh âm thầm tham gia tuyên truyền cách mạng trong đội ngũ công nhân mỏ.

Những tờ báo như Búa Liềm, Lao Động, Công Hội Đỏ hay Than được anh bí mật truyền tay và đọc cho công nhân nghe. Qua đó, nhiều người lao động hiểu hơn về quyền lợi của mình, về lý tưởng giải phóng dân tộc và con đường đấu tranh giành độc lập cho đất nước.

Tháng 7/1929, các tổ chức thanh niên cách mạng tại vùng mỏ được chuyển thành các chi bộ cộng sản. Chi bộ Cẩm Phả – Cửa Ông ra đời, trở thành chi bộ cộng sản đầu tiên của vùng mỏ Quảng Ninh. Ngô Huy Tăng được kết nạp vào Đảng khi mới 17 tuổi, trở thành một trong những đảng viên trẻ tuổi tiêu biểu của phong trào cách mạng địa phương.

Một trong những sự kiện làm nên tên tuổi của anh diễn ra vào đêm 6 rạng sáng 7/11/1929.

Để chào mừng kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, chi bộ giao cho Ngô Huy Tăng thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt: treo lá cờ đỏ búa liềm lên đỉnh cầu trục Poóc-tích số 1 tại Cảng Cửa Ông.

Đây là vị trí cao nhất, nổi bật nhất trong toàn khu vực cảng biển, đồng thời cũng là nơi được canh gác nghiêm ngặt. Nếu bị phát hiện, người thực hiện nhiệm vụ có thể phải trả giá bằng tính mạng.

Giữa đêm tối, trong tiếng máy móc từ khu sàng tuyển than vẫn vang lên không ngớt, Ngô Huy Tăng bí mật mang theo lá cờ, lặng lẽ tiếp cận cầu trục. Với sự gan dạ và nhanh nhẹn hiếm có, chàng thanh niên 17 tuổi leo lên kết cấu thép cao hàng chục mét rồi buộc lá cờ đỏ búa liềm vào vị trí cao nhất.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, anh nhanh chóng rời khỏi hiện trường mà không để lại bất kỳ dấu vết nào.

Sáng hôm sau, toàn bộ khu mỏ Cửa Ông chấn động.

Giữa bầu trời vùng biển Đông Bắc, lá cờ đỏ búa liềm tung bay kiêu hãnh trên đỉnh cầu trục. Hàng nghìn công nhân ngước nhìn lá cờ với niềm xúc động và tự hào. Đối với họ, đó không chỉ là một biểu tượng chính trị mà còn là niềm tin vào tương lai, vào sức mạnh đoàn kết của giai cấp công nhân và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trong khi đó, chính quyền thực dân Pháp vô cùng hoảng hốt. Lực lượng cảnh sát, mật thám được huy động khẩn cấp để điều tra. Nhiều cuộc khám xét được tiến hành tại các khu lán thợ và nơi ở của công nhân, nhưng mọi nỗ lực truy tìm người treo cờ đều không đem lại kết quả.

Sau sự kiện ấy, Ngô Huy Tăng tiếp tục được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng trong phong trào cách mạng vùng mỏ. Anh tham gia tuyên truyền, rải truyền đơn, xây dựng cơ sở cách mạng và làm nhiệm vụ liên lạc giữa tổ chức Đảng tại Cẩm Phả – Cửa Ông với Xứ ủy Bắc Kỳ.

Tuy nhiên, hoạt động ngày càng mạnh mẽ của anh cũng khiến thực dân Pháp đặc biệt chú ý. Trong các đợt đàn áp phong trào công nhân, Ngô Huy Tăng bị bắt và kết án 5 tháng tù giam dù không đủ chứng cứ buộc tội.

Sau khi mãn hạn tù năm 1930, anh được tổ chức điều động về Hà Nội tiếp tục hoạt động cách mạng. Tại đây, Ngô Huy Tăng tham gia Thành ủy Hà Nội và phụ trách công tác vận động công nhân.

Tháng 11/1930, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, anh bị thực dân Pháp bắt giữ. Để khai thác thông tin về tổ chức cách mạng, địch sử dụng nhiều hình thức tra tấn dã man. Nhưng dù tuổi đời còn rất trẻ, Ngô Huy Tăng vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cộng sản.

Tại phiên tòa xét xử, anh cùng các đồng chí công khai bày tỏ lý tưởng cách mạng, hô vang khẩu hiệu đấu tranh và hát Quốc tế ca ngay trước mặt chính quyền thực dân. Sau đó, tòa án thực dân tuyên phạt anh 10 năm cấm cố.

Năm 1932, Ngô Huy Tăng bị đày lên Nhà tù Sơn La. Trong điều kiện giam giữ vô cùng khắc nghiệt, anh vẫn tiếp tục tuyên truyền cách mạng và động viên các đồng chí giữ vững niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Những trận đòn tra tấn, bệnh tật và cuộc sống khổ sai cuối cùng đã cướp đi sinh mạng của người chiến sĩ trẻ tuổi. Ngô Huy Tăng qua đời trong lao tù khi vừa tròn 21 tuổi, để lại niềm tiếc thương sâu sắc cho đồng đội và phong trào cách mạng.

Dù cuộc đời ngắn ngủi, những đóng góp của anh đối với phong trào công nhân vùng mỏ và cách mạng Việt Nam vẫn luôn được ghi nhớ. Năm 2011, Thủ tướng Chính phủ truy tặng Bằng Tổ quốc ghi công cho liệt sĩ Ngô Huy Tăng.

Ngày nay, bên bờ vịnh Bái Tử Long, tượng đài liệt sĩ Ngô Huy Tăng được dựng lên như một biểu tượng tri ân đối với người đảng viên cộng sản đầu tiên của Nhà sàng Cửa Ông và một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào công nhân vùng than.

Gần một thế kỷ đã trôi qua, nhưng câu chuyện về chàng trai 17 tuổi dũng cảm leo lên đỉnh cầu trục giữa đêm tối để treo lá cờ đỏ búa liềm vẫn được các thế hệ thợ mỏ Quảng Ninh nhắc lại với niềm tự hào.

Bởi có những con người tuy chỉ sống trong một quãng đời ngắn ngủi, nhưng lý tưởng, lòng quả cảm và những gì họ cống hiến cho dân tộc lại trở thành giá trị trường tồn cùng lịch sử.

Minh Triết (tổng hợp)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn