Ngô Nhật Khánh
Lê Khánh Ngọc
Ngô Nhật Khánh (chữ Hán: 吳日慶; ? - 979), Tước hiệu Ngô Lãm công (吳覽公) hoặc Ngô An vương (吳安王), là một thủ lĩnh thời 12 sứ quân ở giữa thế kỷ 10 trong lịch sử Việt Nam. Xuất thân từ dòng dõi nhà Ngô, rồi trấn giữ quê hương Đường Lâm và trở thành một trong những thế lực quân sự mạnh tạo ra loạn 12 sứ quân. Sau đó ông hàng phục Đinh Bộ Lĩnh, lấy công chúa Phất Kim và trở thành phò mã nhà Đinh hơn 10 năm trong kinh đô Hoa Lư. Cuối triều Đinh, Ngô Nhật Khánh bỏ trốn sang Chiêm Thành và bị bão dìm chết tại cửa biển Đại An trong lần đem quân Chiêm Thành theo đường thủy tiến đánh kinh đô Hoa Lư.
Thân thế
Ngô Nhật Khánh người Đường Lâm, Hà Nội. Theo các sách sử cũ như Đại việt sử ký toàn thư, Ngô Nhật Khánh là cháu họ của Ngô Quyền. Điều này phù hợp hơn với giả thuyết là con Ngô Xương Văn vì ông cát cứ sớm ở Đường Lâm quê hương nhà Ngô và từng bị Dương Tam Kha, Ngô Xương Văn đem quân đánh dẹp.
Riêng Phả hệ họ Ngô Việt Nam soạn năm 2003 của Ban liên lạc dòng họ Ngô cho rằng ông là con của Nam Tấn vương Ngô Xương Văn, cháu nội Ngô Quyền và mẹ chính là Dương Vân Nga. Một số nhà nghiên cứu[1] cũng theo đó dè dặt ghi nhận điều này. Tuy nhiên, giả thuyết này có rất nhiều chỗ không hợp lý trong sử sách, nếu căn cứ vào thân thế và cuộc đời của hoàng hậu hai triều Dương Vân Nga. Tạ Chí Đại Trường trong tác phẩm "Bài sử khác cho Việt Nam"[2] căn cứ sự kiện Đỗ Cảnh Thạc phù trợ Xương Văn trước kia, thấy nơi vùng căn cứ Đỗ Động, khi mà sứ quân Đỗ Cảnh Thạc đã bị tiêu diệt, lại có "bọn con em Ngô Tiên chúa," để đoán rằng An Vương Ngô Nhật Khánh chính là con Xương Văn; và cho rằng Ngô Nhật Khánh chính là người lãnh đạo 500 con em nhà Ngô tiến đánh lực lượng sứ quân Trần Lãm năm 967 rồi bị Đinh Bộ Lĩnh bức hàng như sử đã ghi:
Khi Minh Công mất, gặp lúc bọn con em của Ngô Tiên chúa ở Đỗ Động Giang hơn 500 người đem quân đến đánh, mới vào đến đất Ô Man thì bị người làng ấy là Ngô Phó sứ đánh bại phải trở về. Bộ Lĩnh nghe tin, liền cất quân đi đánh vùng sông và động ấy, không bộ lạc nào không hàng phục.
Hiện nay phần lớn các ý kiến chỉ dừng lại ở việc xác định ông là con cháu họ của Ngô Quyền, việc ông ở Đỗ Động Giang lúc này có thể hiểu là quá trình mở rộng lãnh thổ từ căn cứ Đường Lâm.
Sứ quân
Sau khi Ngô Quyền mất (năm 944), Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô. Nhiều nơi không chịu thần phục, điển hình như họ Phạm ở Trà Hương đã che chở Ngô Xương Ngập và Loạn hai thôn Đường, Nguyễn ở Thái Bình.
Ngô Xương Văn khôi phục nhà Ngô từ tay Dương Tam Kha (950), nhưng tới năm 965 khi Xương Văn tử trận, nạn cát cứ lại bùng phát mạnh mẽ hơn. Các thế lực yếu bị tiêu diệt dần, lãnh thổ Tĩnh hải quân chỉ còn mười hai thế lực lớn. Sử gọi đó là Thập nhị sứ quân đại loạn.
Ngô Nhật Khánh là một trong 12 sứ quân, đóng tại quê hương nhà Ngô, tức Đường Lâm, tự xưng là Ngô Lãm Công. Các nhà nghiên cứu căn cứ vào hành trạng của ông mà suy đoán ông được Ngô Quyền giao trấn thủ đất hương hỏa của nhà Ngô, sau vì không phục Dương Tam Kha mà chiếm đóng và củng cố lực lượng để trở thành sứ quân. Theo giáo sư Trần Quốc Vượng thì thôn Đường (cùng thôn Nguyễn, lực lượng khiến Ngô Xương Văn tử trận), tức Đường Lâm thuộc phạm vi chiếm đóng của sứ quân Ngô Nhật Khánh, còn thôn Nguyễn Gia Loan thuộc căn cứ của sứ quân Nguyễn Thái Bình, tức Nguyễn Khoan.[3]
Khi Ngô Xương Xí nối ngôi, Ngô Nhật Khánh là anh em cùng họ cũng kéo quân từ Đường Lâm về Cổ Loa tranh giành.[4] Thần phả đình Văn Cú ở Hải Phòng cho biết sứ quân Ngô Nhật Khánh thường chiêu dụ hào kiệt theo về, khi nghe danh muốn dụ dỗ Đỗ Vĩ nhằm hãm hại ông. Do vậy, Đỗ Vĩ phải đem vợ và hai con trai Đỗ Quang, Đỗ Huy chạy về vùng Hải Phòng lánh nạn.
Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, đã từng có thời gian Ngô Nhật Khánh tự xưng là An vương (安王), nhưng không rõ đó là thời gian cụ thể nào, trước hay sau khi xưng là Ngô Lãm công. Có thể việc xưng An vương chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, do thấy mình không đủ thực lực trội hơn các sứ quân khác nên ông lại tự rút danh hiệu xuống là Lãm Công.
Trong thời loạn lạc đó, Đinh Bộ Lĩnh tỏ ra là sứ quân mạnh nhất nhờ sự liên kết với sứ quân Trần Lãm. Một mặt, Bộ Lĩnh ra tay dẹp các sứ quân, nhưng riêng với các sứ quân họ Ngô là Nhật Khánh và Xương Xí,[5] Bộ Lĩnh dùng chính sách chiêu hàng, vì các sứ quân này là dòng họ nhà Ngô vừa mất.
Kết quả cả Ngô Xương Xí và Ngô Nhật Khánh đều về hàng Đinh Bộ Lĩnh. Sử chép sự kiện sứ quân Trần Lãm sai Đinh Bộ Lĩnh đi đánh các hùng trưởng khác, đều thắng được cả rồi mới đến sự kiện Phạm Phòng Át đem quân về hàng. Kết thúc nhà Ngô bằng sự kiện khi Minh Công mất, gặp lúc bọn con em của Ngô Tiên chúa ở Đỗ Động Giang hơn 500 người đem quân đến đánh, mới vào đến đất Ô Man thì bị người làng ấy là Ngô Phó sứ đánh bại phải trở về. Bộ Lĩnh nghe tin, liền cất quân đi đánh vùng sông và động ấy, không bộ lạc nào không hàng phục. Từ đó lại dân ở kinh phủ đều khâm phục theo về. Nhà Ngô mất. Như vậy có thể suy đoán được rằng Ngô Nhật Khánh, người lãnh đạo tàn dư cuối cùng của nhà Ngô, chính là sứ quân mà Đinh Bộ Lĩnh hàng phục sau cùng, kết thúc sự nghiệp dẹp loạn để lên ngôi hoàng để vào năm 968 đồng thời phong cho sứ quân này là phò mã nhà Đinh.


