Ngô Quang Bích
Ngư Phong Tướng công Ngô Quang Bích - người khởi xướng phong trào Cần Vương chống Pháp của Nhân dân ta cuối thế kỷ XIX.
Tướng công Ngô Quang Bích, hiệu Ngư Phong, sinh ngày 8 tháng 4 năm Nhâm Thìn (1832) người làng Trình Phố, xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Năm 1861, ông đỗ cử nhân, nhưng dâng sớ xin ở nhà mở trường dạy học... Thấy quê nhà bị úng lụt mất mùa, ông tổ chức đào sông Sứ, xây cống Tam Đồng, đưa nước vào tưới tiêu, từ đó hai mùa tốt tươi (dân ngợi ca, để ruộng làng cúng tế sau khi ông mất).
Năm 1869 khoa Kỷ Tỵ ông thi đỗ Đình Nguyên Hoàng Giáp, lần lượt giữ các chức: Nội các thừa chỉ ở Kinh, Tri phủ Diên Khánh (Khánh Hòa), Tri phủ Lâm Thao (Hưng Hóa), Án Sát Bình Định, Án Sát Sơn Tây, Tế Tửu Quốc Tử Giám, được Vua giao duyệt bộ “Việt sử Thông giám cương mục”, Chánh sứ Sơn phòng kiêm Tuần Phủ Hưng Hóa. Ông có công thu dụng tướng Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc để tiễu phỉ, sau chống Pháp, hai lần giết tướng giặc ở Cầu Giấy. Suốt thời gian làm quan ông được vua khen “Quan thanh liêm” dân xưng là “Hoạt Phật”.
Năm 1883 triều đình ký hàng ước với Pháp, triệu hồi ông về Kinh nhậm chức. Ông đã nộp trả ấn tín, quyết tử chiến bảo vệ thành Hưng Hóa. Giặc đưa 2 binh đoàn với hơn 7.000 quân cùng tầu chiến, đại bác tiến đánh. Thành vỡ, ông định tuẫn tiết, nhưng được quân lính mở đường máu, rút lên Tiên Động, Cẩm Khê dựng cờ khởi nghĩa. Khắp nơi anh hùng hào kiệt kéo về tụ nghĩa. Hơn 1 năm sau, khi vua Hàm Nghi lên ngôi sai sứ ra phong chức Hiệp Biện Đại Học sỹ, Lễ Bộ Thượng Thư, Hiệp Thống Bắc Kỳ Quân vụ Đại Thần, Thuần Trung Hầu, được quyền văn từ Tham Tán, võ từ Để Đốc “liệu nghi lục dụng” và cử ông hai lần đi sứ cầu viện. Tuy việc không thành bởi triều đình nhà Thanh đã thỏa hiệp với Pháp, nhưng những chuyến ngoại giao của ông đã tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của Sĩ phu miền Nam Trung Quốc.
Tháng 11 năm 1886 ông quyết định chuyển Đại bản doanh lên Nghĩa Lộ nhằm mở rộng địa bàn với chủ trương đón Vua Hàm Nghi ra Bắc. Giặc mấy lần tấn công lên Nghĩa Lộ đều bị thất bại thảm hại. Năm 1888 ông lui binh về Quế Sơn châu Yên Lập xây dựng căn cứ tại núi Tôn Sơn Mộ Xuân, tổ chức trận đánh năm Kỷ Sửu khi giặc tiến sâu vào căn cứ địa, tiêu diệt hơn 500 quân giặc đồng thời làm căn cứ để củng cố phong trào kháng chiến lâu dài.
Suốt 7 năm (1883-1890) với cương vị lãnh tụ của phong trào Cần Vương Bắc Kỳ, ông đã tập hợp và đoàn kết được đồng bào các dân tộc, biết dựa vào núi rừng kết hợp lối đánh du kích với lối đánh “du binh”, địa bàn thiên la địa võng của chiến tranh Nhân dân, và được nhiều tướng giỏi phò tá như Tống Duy Tân, Tán Thuật, Bố Giáp, Đề Kiều, Đốc Ngữ.. đã làm cho quân Pháp nhiều phen thất điên bát đảo...


