Ngô Quyền- người mở đầu kỷ nguyên độc lập cho đất nước thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc
Ngô Quyền sinh vào năm Mậu Ngọ (898) niên hiệu Càn Ninh thứ năm hoặc Quang Hóa, năm đầu đời Đường Chiêu Tông ở xứ Đường Lâm (nay là xã Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội). Cha Ngô Quyền là Ngô Mân, làm chức Châu mục ở châu Đường Lâm. Họ Ngô của ông là dòng họ hào trưởng có thế lực, đời đời là quí tộc.
Lúc trưởng thành, Ngô Quyền võ nghệ tinh thông và có chí khí khác người. Năm 920, Ngô Quyền theo Dương Đình Nghệ đánh đuổi quân Nam Hán, giải phóng thành Đại La vào năm 931, góp phần giúp cho Dương Đình Nghệ thắng quân Nam Hán lên làm Tiết độ sứ. Năm 932, Ngô Quyền được Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ tin tưởng giao cai quản Châu Ái rồi còn gả con gái cho. Trong 7 năm cai quản Ái Châu, Ngô Quyền trổ tài lực, dốc lòng đem lại yên vui, thái bình cho dân chúng.
Năm 937, thế lực họ Kiều ở châu Phong tổ chức binh biến, giết chết Dương Đình Nghệ, đưa Kiều Công Tiễn lên nắm quyền. Công Tiễn tự xưng Tiết độ sứ. Hành động này đã gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của các thế lực hào trưởng các địa phương, thậm chí chính nội bộ họ Kiều cũng chia rẽ trầm trọng. Ngô Quyền, với danh nghĩa là bộ tướng và con rể của Dương Đình Nghệ đã sớm trở thành ngọn cờ quy tụ lòng yêu nước của mọi tầng lớp, tập hợp lực lượng tiêu diệt kẻ phản trắc Kiều Công Tiễn. Bị cô lập, Kiều Công Tiễn hoảng sợ, vội vã sai người sang cầu cứu nhà Nam Hán. Nam Hán Cao Tổ (Lưu Cung) sai con trai là Lưu Hoằng Thao đem hai vạn quân, dùng chiến thuyền, xâm lấn Tĩnh hải quân.
Năm 938, Ngô Quyền cùng với Dương Tam Kha (con trai Dương Đình Nghệ) và Đỗ Cảnh Thạc đem quân ra Đại La, giết chết Kiều Công Tiễn khi quân Nam Hán còn chưa kịp vào thành. Thành Đại La trở thành trung tâm đầu não và chỉ huy của Ngô Quyền để nhanh chóng tổ chức kháng chiến chống quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng. Trước mưu đồ xâm lược trở lại của phong kiến Trung Quốc, ngọn cờ cứu nước của Ngô Quyền trở thành ngọn cờ đoàn kết của cả dân tộc. Đội quân Ngô Quyền, từ một đội binh Ái Châu đã nhanh chóng trở thành một đội quân dân tộc. Truyền thuyết dân gian còn ghi nhớ chuyện 38 chàng trai làng Gia Viễn (Hải Phòng) do Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận dẫn đầu, đã tự vũ trang, xin theo Ngô Quyền phá giặc. Trai tráng các làng Lâm Động (Thủy Nguyên, Hải Phòng), Đằng Châu (Kim Động, Hải Hưng), người mang vũ khí, kẻ mang chiến thuyền, tìm đến cửa quân xin diệt giặc. Ba anh em Lý Minh, Lý Bảo, Lý Khả ở Hoàng Pha (Hoàng Động, Thủy Nguyên), ông tổ họ Phạm ở Đằng Giang (An Hải, Hải Phòng) cũng chiêu mộ dân binh, hăng hái tham gia kháng chiến.
Vùng cửa sông và vùng hạ lưu sông Bạch Đằng được Ngô Quyền chọn làm chiến trường quyết chiến. Lợi dụng chế độ thủy văn khắc nghiệt của sông Bạch Đằng, ông sai đóng cọc dưới lòng sông, đầu bịt sắt nhọn sao cho khi nước triều lên thì bãi cọc bị che lấp. Ngô Quyền dự định nhử quân Nam Hán vào khu vực này khi thủy triều lên và đợi nước triều rút xuống cho thuyền quân Nam Hán mắc cạn mới giao chiến. Tướng Dương Tam Kha chỉ huy đội quân bên tả ngạn, Ngô Xương Ngập (con trai cả của Ngô Quyền) và Đỗ Cảnh Thạc chỉ huy đội quân bộ bên hữu ngạn. Hai cánh quân tả, hữu sẽ phối hợp đánh địch khi chúng bị mắc kẹt ở đoạn sông Bạch Đằng đóng cọc nhọn. Quả nhiên, quân Nam Hán mắc mưu vào đúng thế trận Ngô Quyền đã sắp đặt. Toàn bộ chiến thuyền quân Nam Hán bị cọc nhọn đâm chìm. Tướng giặc Lưu Hoằng Thao bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ. Chiến thắng Bạch Đằng diễn ra quá nhanh khiến cho vua Nam Hán là Lưu Cung đang đóng quân ở sát biên giới mà không kịp ứng tiếp cho con trai. Nhà Nam Hán phải từ bỏ giấc mộng xâm lấn Tĩnh Hải quân.
Vùng cửa sông và vùng hạ lưu sông Bạch Đằng được Ngô Quyền chọn làm chiến trường quyết chiến. Lợi dụng chế độ thủy văn khắc nghiệt của sông Bạch Đằng, ông sai đóng cọc dưới lòng sông, đầu bịt sắt nhọn sao cho khi nước triều lên thì bãi cọc bị che lấp. Ngô Quyền dự định nhử quân Nam Hán vào khu vực này khi thủy triều lên và đợi nước triều rút xuống cho thuyền quân Nam Hán mắc cạn mới giao chiến. Tướng Dương Tam Kha chỉ huy đội quân bên tả ngạn, Ngô Xương Ngập (con trai cả của Ngô Quyền) và Đỗ Cảnh Thạc chỉ huy đội quân bộ bên hữu ngạn. Hai cánh quân tả, hữu sẽ phối hợp đánh địch khi chúng bị mắc kẹt ở đoạn sông Bạch Đằng đóng cọc nhọn. Quả nhiên, quân Nam Hán mắc mưu vào đúng thế trận Ngô Quyền đã sắp đặt. Toàn bộ chiến thuyền quân Nam Hán bị cọc nhọn đâm chìm. Tướng giặc Lưu Hoằng Thao bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ. Chiến thắng Bạch Đằng diễn ra quá nhanh khiến cho vua Nam Hán là Lưu Cung đang đóng quân ở sát biên giới mà không kịp ứng tiếp cho con trai. Nhà Nam Hán phải từ bỏ giấc mộng xâm lấn Tĩnh Hải quân.
Ngô Quyền mất ngày 18 tháng Giêng năm 944, thọ 47 tuổi. Ông được xây lăng thờ ở nhiều nơi. Tại xã Đường Lâm, Sơn Tây có đình thờ và lăng Ngô Quyền. Trong nhà truyền thống xã Đường Lâm còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như rìu đá, di chỉ đồ đá mới, cọc gỗ Bạch Đằng… Tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, Bảo tàng Hải Phòng, Hải Dương đều trưng bày trang trọng tượng, tranh về Ngô Quyền cùng những hiện vật, mô hình về trận chiến Bạch Đằng năm 938. Ngày 12/12/1986 Khu di tích Từ Lương Xâm - nơi đại bản doanh của Ngô Quyền đánh trận Bạch Đằng (quận Hải An- Hải Phòng) đã được Bộ Văn hoá (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia theo Quyết định số 235 - VH/QĐ. Để tưởng nhớ công ơn của Đức Vương Ngô Quyền, hàng năm nhân dân địa phương tổ chức lễ hội truyền thống tại di tích trong 03 ngày từ 16- 18 tháng giêng đúng vào dịp kỷ niệm ngày mất của Ngô Quyền. Ông mãi là niềm tự hào của dân tộc; người anh hùng đã khôi phục quốc thống sau nghìn năm Bắc thuộc.



