Ngô Quyền và Trận chiến cọc gỗ trên sông Bạch Đằng
Vào những năm đầu thế kỷ thứ X, mảnh đất Giao Châu (tên gọi nước ta thời bấy giờ) nằm dưới ách cai trị khắc nghiệt của các triều đại phong kiến phương Bắc. Sau khi Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ, rồi đến Dương Đình Nghệ dốc lòng xây dựng nền móng độc lập, bờ cõi nước Việt mới nhen nhóm được chút bình yên. Lúc bấy giờ, tại vùng đất Đường Lâm, có một bậc hào kiệt tướng mạo phi thường, trí dũng song toàn tên là Ngô Quyền. Ông vốn là con rể, đồng thời là tướng giỏi dưới trướng Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, được tin tưởng giao cai quản vùng đất Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay).
Năm 937, bi kịch ập đến khi nghịch thần Kiều Công Tiễn phản bội, sát hại Dương Đình Nghệ để cướp ngôi Tiết độ sứ. Hành động phản nghịch này khiến lòng dân căm phẫn, sĩ khí sục sôi. Ngô Quyền từ Ái Châu nghe tin dữ, lập tức tập hợp binh mã, hiệu triệu hào kiệt bốn phương kéo quân ra Bắc để trừng phạt kẻ phản tặc, rửa hận cho nhạc phụ và giành lại chính quyền.
Kiều Công Tiễn bị cô lập, hoảng sợ trước thanh thế của Ngô Quyền, bèn làm một việc nhục nhã: sai người sang cầu cứu nhà Nam Hán (một triều đại phong kiến ở phương Nam Trung Quốc). Vua Nam Hán là Lưu Cung chớp lấy cơ hội này để thực hiện dã tâm thôn tính nước Việt một lần nữa. Hắn phong cho con trai là Hoằng Tháo làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, thống lĩnh một hạm đội chiến thuyền khổng lồ theo đường biển ào ạt tiến vào cửa sông Bạch Đằng. Bản thân Lưu Cung cũng đóng quân ở Hải môn để làm hậu thuẫn.
Mùa thu năm 938, quân của Ngô Quyền tiến vào thành Đại La, nhanh chóng tiêu diệt kẻ phản quốc Kiều Công Tiễn, loại bỏ mối nguy bên trong trước khi giặc ngoại xâm đặt chân tới. Đứng trước bờ cõi đang bị đe dọa bởi hàng vạn quân Nam Hán hung hãn, Ngô Quyền không hề nao núng. Ông triệu tập các tướng lĩnh tại đại bản doanh để bàn kế sách vây hãm và tiêu diệt địch.
Giữa ba quân tướng sĩ, Ngô Quyền dõng dạc phân tích tình hình: "Hoằng Tháo là một đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, chiến thuyền hành quân mệt mỏi. Nghe tin Kiều Công Tiễn đã chết, trong không có nội ứng, chí khí của chúng chắc chắn đã nhụt đi một nửa. Quân ta sức còn khỏe, địch từ xa đến mệt mỏi, ta nhất định sẽ bẻ gãy được chúng. Tuy nhiên, chiến thuyền của quân Nam Hán rất lớn, nếu ta cho chiến thuyền đối đầu trực diện trên biển rộng thì phe ta bất lợi. Ta phải tìm cách chế ngự lợi thế thủy chiến của chúng."
Nơi Ngô Quyền chọn làm chiến trường quyết chiến chính là sông Bạch Đằng. Đây là cửa ngõ đường thủy huyết mạch phía Đông Bắc, nơi có địa hình vô cùng đặc biệt: lòng sông rộng, dòng chảy xiết, bên bờ là rừng rậm trùng điệp, và đặc biệt là chế độ thủy triều lên xuống rất mạnh mẽ. Mỗi ngày, triều dâng cao ngập cả hai bên bờ, nhưng khi triều rút, mực nước hạ thấp rất nhanh, để lộ ra những bãi bồi và dòng chảy hẹp.
Chính từ quy luật tự nhiên này, một kế sách thiên tài độc nhất vô nhị trong lịch sử quân sự đã ra đời. Ngô Quyền hạ lệnh cho quân sĩ vào rừng đốn hàng ngàn cây gỗ lớn, đầu đẽo thật nhọn rồi bịt sắt kiên cố. Sau đó, lợi dụng lúc thủy triều rút xuống, các binh sĩ bí mật đóng những chiếc cọc gỗ bịt sắt này xuống lòng sông Bạch Đằng tại những vị trí hiểm yếu gần cửa biển. Khi thủy triều dâng lên, toàn bộ bãi cọc khổng lồ hoàn toàn bị che khuất dưới làn nước mênh mông, không một ai có thể nhìn thấy bằng mắt thường.
Ngô Quyền bố trí một lực lượng phục binh lớn nấp sẵn trong các khu rừng rậm và ghềnh đá dọc hai bên bờ sông. Ông giao nhiệm vụ cho một đội thuyền nhỏ nhẹ, cơ động do tướng Nguyễn Tất Tố chỉ huy làm nhiệm vụ khiêu chiến.
Mùa đông năm 938, hạm đội thuyền chiến to lớn, đồ sộ của Hoằng Tháo hùng hổ tiến vào cửa sông Bạch Đằng. Thấy một toán thuyền nhỏ của quân Việt ra chặn đường, Hoằng Tháo tỏ ra khinh thị, đắc ý cho rằng quân ta yếu thế nên lập tức hạ lệnh cho toàn bộ đại quân thúc trống, đuổi theo nhằm nghiền nát đối phương. Tướng Nguyễn Tất Tố giả vờ thua chạy, vừa đánh vừa lui, dụ đoàn thuyền địch lọt sâu vào bên trong cửa sông.
Hoằng Tháo hoàn toàn sa vào bẫy mà không hề hay biết. Khi đoàn chiến thuyền Nam Hán đã vượt qua bãi cọc ngầm cũng là lúc đỉnh triều bắt đầu chuyển dịch. Thủy triều rút xuống nhanh chóng như một dòng thác đổ ra biển.
Đúng thời điểm ngàn năm có một ấy, Ngô Quyền phát lệnh tổng tấn công. Tiếng trống trận vang lên liên hồi xé toạc không gian, vang vọng khắp núi rừng. Từ hai bên bờ sông, các chiến thuyền lớn của quân Việt lao ra như những mũi tên, chặn đầu và khóa đuôi quân địch. Các toán phục binh trong rừng đồng loạt xông ra, bắn tên lửa, ném đá dữ dội xuống thuyền giặc.
Quân Nam Hán bị tấn công bất ngờ, đội hình trở nên hỗn loạn. Hoằng Tháo hoảng hốt ra lệnh cho quân quay thuyền rút chạy ra biển. Thế nhưng, nước triều rút nhanh đã làm lộ ra những đầu cọc gỗ bịt sắt nhọn hoắt. Những chiếc thuyền chiến khổng lồ, nặng nề của Nam Hán theo đà lao xuống đã đâm sầm vào bãi cọc ngầm. Tiếng gỗ gãy rầm rầm vang lên kinh hoàng, lòng thuyền bị đâm thủng, nước biển tràn vào cuồn cuộn.
Nhiều chiếc thuyền bị lật úp, số khác bị mắc kẹt cứng trên bãi cọc, làm bia đỡ đạn cho quân Việt phóng hỏa tiêu diệt. Sông Bạch Đằng lúc này trở thành một lò lửa khổng lồ đầy máu và lửa. Quân Nam Hán phần bị chết cháy, phần bị chết đuối, tiếng khóc than vang động cả một vùng. Bản thân chủ tướng Hoằng Tháo cũng tử trận trong đám loạn quân. Vua Nam Hán Lưu Cung đang đóng quân ở biên giới, nghe tin con trai tử trận và đại quân tan rã, rụng rời tay chân, chỉ biết ôm mặt khóc ròng và thu nhặt tàn quân tháo chạy về nước.
Chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng năm 938 đã đập tan hoàn toàn dã tâm xâm lược của nhà Nam Hán. Mùa xuân năm 939, Ngô Quyền chính thức lên ngôi vua, xưng là Ngô Vương, đóng đô ở Cổ Loa, thiết lập lại triều đình trung ương.
Trận Bạch Đằng không chỉ là một chiến tích quân sự lẫy lừng nhờ nghệ thuật lợi dụng thủy triều thiên tài, mà quan trọng hơn cả, nó đã chấm dứt hoàn toàn hơn một ngàn năm Bắc thuộc tăm tối. Chiến thắng này đã mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự chủ lâu dài và vững chắc cho dân tộc Việt Nam. Người đời sau luôn nhớ về Ngô Quyền như một vị Tổ trung hưng vĩ đại, người đã đặt viên gạch nền móng đầu tiên cho nền tự do của nước nhà.



