Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Ngô Thì Nhậm

Đắk Lắk27/10/2026Xã Tân Khai (Đoàn xã Tân Khai)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngô Thì Nhậm (còn có tên gọi khác là Ngô Thời Nhiệm, 1746 – 1803), sau này là thiền sư Hải Lượng. Ông là một tu sĩ Phật giáo, danh sĩ, nhà văn và nhà chính trị lỗi lạc giai đoạn cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Sống trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động, ông đã đem hết tài năng của mình cống hiến cho đất nước, lập nên những công trạng hiển hách trong triều đại Tây Sơn, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống quân Thanh xâm lược.

Ngô Thì Nhậm sinh ra và lớn lên trong một gia đình dòng dõi gia thế và có truyền thống văn học tại Bắc Hà. Ông là con trai của danh sĩ Ngô Thì Sĩ, người làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội. Nhờ nếp nhà gia giáo cùng tư chất thông minh hiếm có, ông sớm bộc lộ tài năng thiên bẩm về lịch sử và văn học từ khi còn rất trẻ. Mới 16 tuổi, ông đã hoàn thành tác phẩm "Nhị thập tư sử toát yếu". Đến năm 19 tuổi, ông đỗ đầu kỳ thi Hương và một năm sau đó tiếp tục viết cuốn "Tứ gia thuyết phả".

Năm 1768, ở tuổi 23, Ngô Thì Nhậm được bổ nhiệm làm Hiến sát phó sứ Hải Dương. Ba năm sau (1771), ông tham gia kỳ khảo thí tại Quốc tử giám và đạt loại ưu hạng, đồng thời hoàn thành cuốn địa phương chí "Hải đông chí lược". Năm 1775, ông đỗ thứ năm hàng Tiến sĩ tam giáp, chung khoa cử với Phan Huy Ích, đạt đến học vị đỉnh cao thời bấy giờ. Tài năng của ông được chúa Trịnh Sâm hết lời khen ngợi rằng "Tài học không ở dưới người", sau đó bổ làm quan Hộ khoa cấp sự trung ở bộ Hộ dưới triều Lê – Trịnh. Những năm tiếp theo, ông liên tục được thăng tiến, kinh qua các chức vụ Giám sát Ngự sử đài đạo Sơn Nam, rồi Đốc đồng trấn Kinh Bắc kiêm Đốc đồng Thái Nguyên. Thời kỳ này, hai cha con họ Ngô cùng làm quan đồng triều, nổi tiếng văn chương khắp thiên hạ.

Với lòng nhiệt huyết của một kẻ sĩ, Ngô Thì Nhậm đã dâng lên chúa Trịnh nhiều kế sách trị nước an dân sâu sắc thông qua các bài biểu nổi tiếng như Giáo nghị, Pháp nghị và Chính nghị. Tuy nhiên, do triều đại Lê – Trịnh lúc bấy giờ đã bước vào giai đoạn suy vi, những kế sách này dù được ngợi khen nhưng đều không thể áp dụng vào thực tế.

Năm 1780, sau khi vụ án Canh Tý nổ ra (Trịnh Sâm dẹp tan âm mưu đảo chính của phe cánh Trịnh Tông), Ngô Thì Nhậm được thăng làm Công bộ Hữu thị lang. Sự thăng tiến này khiến giới sĩ phu Bắc Hà nghi ngờ ông là người đứng sau tố giác Trịnh Khải. Cùng năm đó, thân phụ ông cũng qua đời vì bạo bệnh sau một chuyến đi công vụ. Những tai ương dồn dập khiến ông phải chịu điều tiếng ác ý "sát tứ phụ nhi thị lang" (giết bốn người cha để được chức Thị lang – ý chỉ cha ông và ba người bạn vong niên của cha). Để lánh nạn, ông buộc phải bỏ trốn về quê vợ tại làng Bách Tính, Nam Định.

D

Vốn mang tư tưởng trung quân Thần học nặng nề, khi Nguyễn Huệ mang quân ra Bắc lần thứ nhất, Ngô Thì Nhậm xem quân Tây Sơn là "giặc" nên đã từ bỏ kinh kỳ để đi lánh nạn, chọn cuộc sống ẩn dật, "nhắm rượu với cua béo". Tuy nhiên, đến năm 1788, khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai và xuống lệnh "cầu hiền", cục diện chính trị đã hoàn toàn thay đổi: cả vua Lê lẫn chúa Trịnh đều đã sụp đổ. Nhận thấy thời thế và cảm kích trước tấm lòng của Nguyễn Huệ, Ngô Thì Nhậm cùng nhiều thân sĩ Bắc Hà khác như Phan Huy Ích, Bùi Dương Lịch, Ninh Tốn... đã quyết định ra giúp nhà Tây Sơn. Ngô Thì Nhậm chính là người đầu tiên trong đám nhân sĩ Bắc Hà đến trình diện ở bộ Lễ.

Khi có được Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Huệ vô cùng mừng rỡ và cảm thán: "Thật là trời để dành ông cho ta vậy". Ông lập tức được phong chức Tả thị lang bộ Lại, tước Tĩnh phái hầu, cùng Võ Văn Ước quản lý toàn bộ quan văn võ triều Lê cũ. Chỉ chưa đầy một tháng sau, ông đã tập hợp các cựu thần soạn tờ biểu suy tôn đề nghị Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, tạo thế chính thống trước khi Nguyễn Huệ rút quân về Thuận Hóa. Sau đó, ông tiếp tục được thăng làm Thượng thư bộ Lại – chức vụ đứng đầu Lục bộ.

Kế lui binh Tam Điệp và tài bang giao xuất chúng:

Cuối năm 1788, lấy cớ vua Lê Chiêu Thống cầu viện, 29 vạn quân Thanh tràn sang xâm lược Đại Việt. Trước sức mạnh áp đảo của kẻ thù, Ngô Thì Nhậm đã hiến kế sách lui binh vô cùng sáng suốt: chủ động rút quân về giữ phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn (Ninh Bình) để bảo toàn lực lượng. Ông nhận định cục diện một cách tài tình:

“Nay, ta giữ quân mà rút về chỗ hiểm Tam Điệp, không bị mất một mũi tên. Cho giặc vào Thăng Long ngủ trọ một đêm, rồi tung quân ra đánh, đuổi chúng đi, có mất gì đâu?".

Chiến lược "nhử hổ vào nhà" này đã tạo điều kiện cho vua Quang Trung thần tốc ra Bắc, mở cuộc tổng tiến công đại phá quân Thanh vào mùa xuân kỷ dậu (1789). Nhìn nhận về công lao này, vua Quang Trung đã khẳng định trước tướng sĩ: "Các người đều là chiến tướng, tự nhiên gặp giặc là đánh, mà lâm cơ cần ứng biến thì không đủ tài. Mấy tháng trước, ta phải để Ngô Thì Nhậm ở lại, cộng sự với các ngươi, chính là lo sẵn cho chỗ đó".

Năm 1790, Ngô Thì Nhậm được bổ nhiệm làm Binh bộ Thượng thư. Dù đứng đầu bộ Binh, nhưng vai trò lớn nhất của ông lúc này là chủ trì toàn bộ chính sách ngoại giao với nhà Thanh. Với tài văn chương lỗi lạc, các bức thư bang giao khôn khéo, vừa mềm dẻo, linh hoạt vừa cứng rắn bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và danh dự quốc gia đều do một tay ông soạn thảo. Ông cũng hai lần trực tiếp dẫn đầu sứ bộ sang Trung Hoa (năm 1790 và 1792-1793). Trong chuyến đi sứ năm 1790, ông đã đến viếng miếu thờ Nhạc Phi ở Hàng Châu và Yển Thành, để lại những bài thơ hoài cổ sâu sắc. Sách Hoàng hoa đồ phả ghi lại rằng ông luôn cố gắng tìm kiếm các dấu tích lịch sử của Việt Nam trên đất khách.

Bên cạnh ngoại giao, Ngô Thì Nhậm còn cùng Trần Văn Kỷ giúp vua Quang Trung tái thiết đất nước sau chiến tranh. Ông chính là tác giả soạn thảo tờ "Chiếu Khuyến nông" – một văn bản quan trọng mở đường cho việc phục hồi kinh tế, nông nghiệp và ổn định đời sống nhân dân thời bấy giờ.

Cuối đời nghiên cứu Phật học và bi kịch từ mối thâm thù:

Năm 1792, vua Quang Trung đột ngột băng hà, vương triều Tây Sơn dần suy yếu. Ngô Thì Nhậm không còn được trọng dụng như trước. Ông quyết định lui về ở ẩn, dành trọn tâm huyết nghiên cứu Phật học. Ông lập thiền viện, soạn công án, lấy pháp hiệu là Hải Lượng thiền sư và trở thành vị Tổ thứ tư của Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam. Năm 1796, ông hoàn thành tác phẩm Phật học có giá trị lớn là "Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh".

Năm 1802, Gia Long tiêu diệt nhà Tây Sơn, lập ra triều Nguyễn. Mùa hè năm 1803, Ngô Thì Nhậm cùng Phan Huy Ích và một số quan viên triều Tây Sơn bị áp giải ra phạt đánh bằng roi tại Văn Miếu Thăng Long. Người chủ trì cuộc hành hình này lại chính là Đặng Trần Thường – một người bạn học cũ từ thời cụ Ngô Thì Sĩ.

(Giữa hai người vốn có một mối thâm thù từ quá khứ. Thuở trẻ, Đặng Trần Thường kém tài hơn Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích nên bị trượt khoa cử, đâm lòng đố kỵ. Vào ngày vinh quy của Ngô Thì Nhậm, Thường từng có hành vi khiếm nhã chặn đường nên bị lính đánh roi. Về sau, khi Ngô Thì Nhậm đang ở đỉnh cao quyền lực dưới triều Tây Sơn, Đặng Trần Thường đến xin tiến cử. Thấy thái độ khúm núm mất phong độ kẻ sĩ của Thường, Nhậm đã thẳng thừng trách mắng: "Ở đây cần dùng người vừa có tài vừa có hạnh, giúp vua cai trị nước. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác" và nhếch khẽ: "Công hầu, khanh tướng, vòng trần ai". Thường ôm hận bỏ vào Nam theo Nguyễn Ánh)

Gặp lại nhau trong thế đổi ngôi tại Văn Miếu, Đặng Trần Thường kiêu hãnh ra vế đối đầy ngạo nghễ để nhục mạ cố nhân:

“Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai đã biết ai"

Ngô Thì Nhậm không hề nao núng, khẳng khái đáp trả ngay lập tức bằng một vế đối bất hủ thể hiện khí tiết của bậc thức giả trước thăng trầm lịch sử:

“Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế"

(Có thuyết kể rằng câu đối gốc của ông là "thế nào cũng thế" hoặc "thế nào vẫn thế", nhưng Thường ép ông phải sửa thành "thế thời phải thế" để thể hiện sự khuất phục, song ông im lặng không đáp).

Tức giận trước thái độ hiên ngang của Ngô Thì Nhậm, Đặng Trần Thường đã ngầm sai người tẩm thuốc độc vào roi da để đánh ông. Sau trận đòn tàn khốc, Phan Huy Ích may mắn sống sót, còn Ngô Thì Nhậm bị độc ngấm vào tạng phủ, biết mình không thể qua khỏi. Trước khi nhắm mắt, ông đã làm bài thơ tuyệt mệnh gửi tặng Đặng Trần Thường để cảnh báo về luật nhân quả ở đời:

“Thương thay Đặng Trần Thường

Tổ yến nhà xử đường

Vị Ương cung chuyện cũ

Tránh sao kiếp tai ương?

Bài thơ mang tính tiên tri sâu sắc, ví Đặng Trần Thường như chim yến làm tổ trong ngôi nhà sắp cháy, hay như Hàn Tín chịu kết cục bi thảm ở cung Vị Ương. Quả nhiên không lâu sau đó, Đặng Trần Thường cũng bị vua Gia Long khép tội và xử tử hình.

Ngô Thì Nhậm qua đời vào năm 1803, khép lại cuộc đời của một vĩ nhân đầy thăng trầm nhưng lẫm liệt. Ông để lại cho hậu thế một sự nghiệp văn học, ngoại giao và tư tưởng Phật giáo đồ sộ, xứng đáng là một trong những biểu tượng trí tuệ lớn nhất của lịch sử Việt Nam thế kỷ XVIII.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn