Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Ngô Thì Nhậm - Thiên tài quân sự và ngoại giao thời Tây Sơn

Tác giả: Vũ Nguyễn Hồng Ngọc Lớp: K13G. GDTH Trường Đại học Hải Dương

Đắk Lắk17/08/2026phường Nhị Chiểu (phường Nhị Chiểu)5 lượt xem0 lượt chia sẻ
Ngô Thì Nhậm - Thiên tài quân sự và ngoại giao thời Tây Sơn

Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803), tự Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên, sinh ra tại làng Tả Thanh Oai (Thanh Trì, Hà Nội) trong gia đình giàu truyền thống khoa bảng thuộc "Ngô gia văn phái". Nhờ nếp nhà gia giáo cùng tư chất thông minh, ông sớm bộc lộ tài năng xuất chúng khi 16 tuổi đã soạn "Nhị thập thất sử toát yếu". Ông đỗ Giải nguyên năm 1768, đỗ Tiến sĩ năm 1775 và từng được chúa Trịnh Sâm hết lời ngợi khen "Tài học không ở dưới người".

Khi triều đình Lê - Trịnh lâm vào cảnh rối ren, ông bỏ về quê ở ẩn, tập trung nghiên cứu và viết sách. Năm 1788, nhận thấy thời thế đổi thay và cảm kích trước tấm lòng "cầu hiền" của Nguyễn Huệ, Ngô Thì Nhậm đã quyết định ra giúp nhà Tây Sơn. Cuộc gặp gỡ giữa vị trí thức lỗi lạc và người anh hùng kiệt xuất đã tạo nên sự thấu hiểu kỳ diệu; vua Quang Trung vui mừng cảm thán: "Thật là trời để dành ông cho ta vậy" và phong ông làm Tả thị lang bộ Lại. Bằng tài năng nghị luận bậc thầy, ông đã soạn thảo bản "Chiếu cầu hiền" lịch sử để chiêu mộ nhân tài cho đất nước.

Trong cuộc kháng chiến chống 29 vạn quân Thanh xâm lược năm 1788 - 1789, Ngô Thì Nhậm đã tỏ rõ tầm vóc của một nhà chiến lược kiệt xuất khi đề xuất kế sách chủ động rút quân về giữ phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn. Sách lược "toàn quân rút lui không bị mất một mũi tên, cho nó ngủ trọ một đêm rồi lại đuổi đi" đã bảo toàn lực lượng, tạo tiền đề quyết định để vua Quang Trung thần tốc ra Bắc đại phá quân Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu. Vua Quang Trung về sau đã khen ngợi đây là kế sách vô cùng sáng suốt mà ông đã tin tưởng giao phó cho Ngô Thì Nhậm.

Sau chiến thắng, ông được giao đảm nhận trọng trách Binh bộ Thượng thư và chủ trì toàn bộ công tác ngoại giao với nhà Thanh. Bằng sự khôn khéo, kiên quyết nhưng linh hoạt, ông vừa bảo vệ vững chắc chủ quyền dân tộc vừa giữ hòa hiếu giữa hai nước. Trong những chuyến sang làm Chánh sứ, ông kiên quyết từ chối bước vào sứ quán khi thấy tấm biển "An Nam di sứ công quán", buộc nhà Thanh phải sửa thành "Nam quốc Sứ quan Công quán" mới chịu tiến vào, thể hiện rõ tự tôn dân tộc của bậc quốc sĩ.

Khi vua Quang Trung qua đời và triều Tây Sơn suy vong, Ngô Thì Nhậm lui về lập Thiền viện Trúc Lâm ở Bích Câu, lấy pháp hiệu Hải Lượng thiền sư và hoàn thành tác phẩm triết học "Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh" (1796). Năm 1803, dưới triều Nguyễn, ông bị Đặng Trần Thường hãm hại trong cuộc phạt đánh bằng roi tại Văn Miếu Thăng Long. Trước cái chết, ông vẫn giữ nguyên khí tiết hiên ngang qua câu đối bất hủ "Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế". Ngô Thì Nhậm qua đời, để lại di sản đồ sộ với hơn 600 bài thơ cùng 15 tác phẩm lớn, mãi là ngôi sao sáng lẫm liệt trên bầu trời văn hóa và lịch sử Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn