NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)
NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)
Việt Nam là một nước nhỏ, có vị trí địa - chính trị đặc biệt nên muốn “quốc thái dân an” thì “cốt ở bang giao”. Ngoại giao luôn xuất phát từ thực trạng thế và lực của đất nước để xử lí các mối quan hệ với bên ngoài, nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho đất nước. Ngoại giao là vũ khí mà ông cha ta đã khôn khéo sử dụng để tạo dựng môi trường chung sống hòa bình với các nước khác, duy trì và cứu vãn hòa bình trước mọi cuộc giao tranh và gìn giữ hòa bình sau đó. Vì thế, ngoại giao Việt Nam đã có bề dày và chiều sâu lịch sử, có truyền thống rất đáng tự hào và trân trọng. Truyền thống ngoại giao ấy đến thời đại Hồ Chí Minh được chắp cánh bay cao, bay xa xứng tầm thời đại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị Anh hùng giải phóng dân tộc, là nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Người không chỉ sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn sáng lập nền ngoại giao hiện đại. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra kỉ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam, đồng thời mở ra kỉ nguyên mà ngoại giao Việt Nam tạo dựng và định hình những bản sắc của một nền ngoại giao trong thời đại Hồ Chí Minh. Từ chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hóa Việt Nam, bằng kho tàng tri thức đồ sộ Đông - Tây, với bản lĩnh dạn dày và kinh nghiệm vô cùng phong phú qua hàng chục năm bôn ba hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã để lại cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại một tư tưởng ngoại giao đặc sắc - Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bao gồm những nguyên lý, nội dung, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao, đã trở thành nền tảng, cơ sở lí luận cho hoạch định đường lối, chính sách ngoại giao của cách mạng Việt Nam. Thực hiện tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) ngoại giao Việt Nam đã trở thành một mặt trận góp phần tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân dưới nhiều hình thức, phát huy được cao độ tác dụng của sự nghiệp chính nghĩa, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phối hợp cùng với mặt trận quân sự và chính trị, đánh bại hai cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp
Hoạt động ngoại giao của Hồ Chí Minh từ sau ngày 2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946. Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã chủ động thực hiện sách lược nhân nhượng với quân Trung Hoa Dân quốc ở Bắc Bộ để có thời gian hòa bình tập trung cho việc giải quyết các khó khăn trong nước và đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược trở lại của Pháp ở Nam Bộ.
Pháp chiếm xong Nam Bộ muốn tiến quân ra miền Bắc nên đã bắt tay với quân Trung Hoa Dân quốc, kí Hiệp ước Hoa - Pháp (28/2/1946). Sau khi hiệp ước được kí, quân Trung Hoa Dân quốc còn tính toán do dự, quân Pháp lại rất nóng lòng đem quân ra miền Bắc, song chúng lo sợ nếu ra miền Bắc thì sẽ vấp phải sức kháng chiến quyết liệt gấp bội phần của quân dân ta so với Nam Bộ, do đó Pháp muốn tìm một cớ sao cho có thể đưa quân ra Bắc một cách hợp pháp.
Nắm lấy cơ hội ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chủ trương tạm hòa với Pháp để đẩy nhanh 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc về nước, cô lập quân Pháp là kẻ thù chính lúc đó. Đảng chỉ rõ: “Vấn đề lúc này không phải là muốn đánh hay không muốn đánh. Vấn đề là biết mình, biết người, nhận định một cách khách quan những điều lợi hại trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng”
Chính vì vậy, ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ. Hiệp định Sơ bộ là văn bản pháp lí quốc tế đầu tiên mà Việt Nam Dân chủ cộng hoà kí kết với nước ngoài.
Sau khi kí Hiệp định sơ bộ ngày 06/3/1946, quân Pháp tiếp tục có những hành động khiêu khích, vi phạm hiệp định và tiếp tục có lập trường ngoan cố làm cho cuộc đàm phán chính thức tại Phôngtennơblô thất bại. Một cuộc chiến tranh sắp bùng nổ, trước tình hình đó, ngày 14/9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí thêm với Pháp một bản Tạm ước qui định hai bên đình chỉ chiến sự, định thời gian nối lại đàm phán vào tháng 1/1947 và qui định một số quan hệ kinh tế, văn hóa giữa hai nước.
Hoạt động ngoại giao của Hồ Chí Minh từ ngày 19/12/1946 đến năm 1950. Từ ngày 19/12/1946, toàn quốc kháng chiến chống Pháp với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế.
Trên mặt trận ngoại giao, từ năm 1947, Đảng ta và Hồ Chủ tịch đã chủ trương vượt biên giới phía Nam sông Mê Kông, lập đại diện của ta ở một số nước Nam Á và Đông Âu… Đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao đã làm phá sản kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” và thủ đoạn cô lập biên giới Việt Nam của thực dân Pháp.
Ngày 1/10/1949, cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có chuyến thăm chính thức Bắc Kinh, sau đó là Liên Xô. Bằng những hoạt động ngoại giao khôn khéo, Người đã thiết lập được quan hệ chính thức với Trung Quốc và Liên Xô, với các nước Đông Âu. Đây là một thắng lợi lớn trên mặt trận ngoại giao, có tác động hỗ trợ đắc lực cho cuộc đấu tranh quân sự. Từ đây cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta không chỉ được nhiều nước biết đến mà còn nhận được sự chi viện có hiệu quả của các nước xã hội chủ nghĩa, giúp ta mở chiến dịch Biên giới thành công, đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta sang một giai đoạn mới.
Hoạt động ngoại giao của Hồ Chí Minh từ năm 1951 đến năm 1954. Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào Đông Dương. Ngày 23/2/1950, Mỹ và Pháp kí Hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương. Tuy nhiên, Đảng ta đã nhanh chóng phát hiện sự bất đồng giữa Mỹ và Pháp trong vấn đề Đông Dương cũng như sự tranh chấp quyền lực giữa các phe phái ngụy quyền. Hoạt động ngoại giao Việt Nam kịp thời và triệt để lợi dụng mâu thuẫn giữa thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giữa bọn bù nhìn thân Pháp và thân Mỹ, tìm cách khoét sâu những mâu thuẫn ấy, làm cho nội bộ chúng càng thêm lục đục.
Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng cũng đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết với nhân dân Lào và Campuchia. Năm 1951, Mặt trận đoàn kết liên minh Việt - Miên - Lào được thành lập.
Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam từng bước thắng lợi, nhất là từ thu - đông 1950, với thế tiến công chiến lược ngày càng phát triển, lực lượng vũ trang ba thứ quân trưởng thành, hậu phương kháng chiến được xây dựng và củng cố vững mạnh, sự giúp đỡ quốc tế ngày càng cao, sự phối hợp với Đảng Cộng sản Pháp, kết hợp với phong trào bảo vệ hòa bình thế giới và phong trào phản chiến ở Pháp. Chủ trương của Đảng và chính phủ ta trước sau như một, là nỗ lực vãn hồi hòa bình, chủ trương kết hợp giành thắng lợi về quân sự với giải pháp ngoại giao để kết thúc cuộc kháng chiến. Ngày 26/11/1953, trong bài trả lời điện phỏng vấn báo Expressen, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố lập trường của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa là sẵn sàng đàm phán với chính phủ Pháp để kết thúc chiến tranh trên cơ sở:“Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam”. Thiện chí hòa bình của Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã mở hướng đi tới để đàm phán để kết thúc một cuộc chiến tranh.
Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã tạo lợi thế cho Việt Nam trên bàn đàm phán. Ngày 8/5/1954, vấn đề chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được đưa ra thảo luận tại Hội nghị Giơnevơ. Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn bước vào Hội nghị với tâm thế của một dân tộc vừa chiến thắng. Ngày 20/7/1954, các nước tham dự Hội nghị đã ra tuyên bố cuối cùng và kí các văn bản hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào, Campuchia, tạo nên khung pháp lí của Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương.
Những thắng lợi đạt được trên đây là kết quả của sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh qua việc kết hợp nhuần nhuyễn đấu tranh quân sự, chính trị và đấu tranh ngoại giao để có thể giành được thắng lợi trọn vẹn nhất.



