NGỌC ĐẦU SƯ NGUYỄN VĂN NGỢI – NGƯỜI GẮN ĐẠO VỚI ĐỜI, TRỌN LÒNG VÌ DÂN TỘC
Trong lịch sử đấu tranh cách mạng và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, có những người đã dành trọn cuộc đời để kết nối đồng bào các tầng lớp, tôn giáo cùng chung một mục tiêu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Ngọc Đầu sư Nguyễn Văn Ngợi là một trong những nhân vật tiêu biểu. Từ một nhà giáo, một chức sắc Cao Đài, ông trở thành nhà hoạt động cách mạng, dành gần như trọn cuộc đời cho sự nghiệp đoàn kết dân tộc và đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước.

Nguyễn Văn Ngợi sinh ngày 4-2-1900 tại xã Long Trung, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang, trong một gia đình nông dân nghèo. Mồ côi mẹ từ nhỏ, ông được một gia đình ở Bạc Liêu nhận làm con nuôi, tạo điều kiện học tập. Vượt qua hoàn cảnh khó khăn, Nguyễn Văn Ngợi nỗ lực học hành và năm 1923 tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, sau đó được bổ nhiệm làm giáo viên tại Vĩnh Long.
Trong những năm đứng trên bục giảng, ông không chỉ tận tâm với nghề mà còn chú trọng bồi dưỡng nhân cách, lòng yêu nước cho học trò. Nhiều thế hệ học sinh được ông dìu dắt sau này trưởng thành, có người trở thành cán bộ lãnh đạo của đất nước, trong đó có đồng chí Phạm Hùng. Nghề giáo cũng giúp ông có điều kiện gần gũi, hiểu đời sống nhân dân và từng bước hình thành tư tưởng hướng thiện, trọng nghĩa đồng bào.
Xuất phát từ lòng nhân ái và mong muốn hướng con người đến những giá trị tốt đẹp, Nguyễn Văn Ngợi gia nhập đạo Cao Đài. Với uy tín, đạo đức và năng lực hoạt động, ông từng bước trở thành Ngọc Đầu sư, một trong những chức sắc cao cấp của Hội thánh. Tuy nhiên, với ông, phụng sự tôn giáo không tách rời trách nhiệm đối với dân tộc. Ông luôn quan niệm rằng đất nước phải được độc lập thì nhân dân mới có cuộc sống tự do, các tôn giáo mới có điều kiện hoạt động và tín ngưỡng của đồng bào mới được bảo đảm.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nguyễn Văn Ngợi tích cực tham gia phong trào cách mạng. Tại huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, ông tham gia giành chính quyền và được Việt Minh giới thiệu làm Chủ tọa cuộc mít tinh ra mắt chính quyền cách mạng địa phương. Cũng trong năm này, ông tích cực vận động các chức sắc, chức việc và tín đồ Cao Đài đoàn kết cùng nhân dân tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Năm 1947, cùng với Cao Triều Phát, Nguyễn Văn Ngợi tổ chức Đại hội Cao Đài Cứu quốc, góp phần vào việc thành lập Hội thánh Cao Đài 12 phái Thống nhất Cứu quốc. Từ đây, vai trò của ông trong công tác vận động đồng bào tôn giáo tham gia sự nghiệp kháng chiến ngày càng nổi bật.
Ông được tín nhiệm giữ nhiều trọng trách như Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Cao Đài 12 phái Thống nhất, Hội trưởng Ban Chấp hành Cao Đài Cứu quốc và Chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh Vĩnh Long. Năm 1948, ông tiếp tục được cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh Vĩnh Long. Trên những cương vị khác nhau, ông luôn chú trọng tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy tinh thần yêu nước và xây dựng sự đồng thuận trong cộng đồng.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, trong bối cảnh đất nước tạm thời bị chia cắt, Nguyễn Văn Ngợi được phân công ở lại miền Nam hoạt động bí mật. Ông chuyển đến Bến Tre, củng cố cơ sở Cao Đài Tiên Thiên, đồng thời tiếp tục vận động chức sắc, tín đồ và nhân dân tham gia đấu tranh chống chính quyền Mỹ - Diệm, góp phần duy trì và phát triển phong trào cách mạng tại địa phương.
Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Nguyễn Văn Ngợi được cử làm Chủ tịch Mặt trận Giải phóng tỉnh Bến Tre – địa phương đi đầu trong phong trào Đồng Khởi. Năm 1961, ông được bầu làm Phó Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Trung Nam Bộ.
Đầu năm 1962, tại Đại hội lần thứ nhất của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, ông được bầu làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Mặt trận, đồng thời giữ chức Chủ tịch Hội đồng Thương binh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Những trọng trách được giao cho thấy uy tín của Nguyễn Văn Ngợi trong giới chức sắc, tín đồ Cao Đài cũng như trong các tầng lớp nhân dân và lực lượng cách mạng.
Những năm hoạt động ở chiến khu là quãng thời gian đầy gian khổ đối với người cán bộ đã bước vào tuổi cao. Điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, bệnh tật thường xuyên, chiến tranh luôn rình rập, nhưng Nguyễn Văn Ngợi vẫn kiên trì hoạt động. Ông dành nhiều tâm sức vận động đồng bào, đặc biệt là tín đồ Cao Đài, thực hiện đường lối đại đoàn kết dân tộc, đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên những khác biệt về tôn giáo, góp phần gắn kết đồng bào có đạo với sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, Nguyễn Văn Ngợi tiếp tục được giao những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình thống nhất đất nước. Ông tham gia Đoàn đại biểu miền Nam dự Hội nghị Hiệp thương chính trị thống nhất đất nước. Năm 1976, ông trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa VI và được bầu làm Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Điều đáng quý ở Ngọc Đầu sư Nguyễn Văn Ngợi không chỉ là những cương vị ông từng đảm nhiệm mà còn ở lối sống giản dị, thanh bạch và tinh thần tận tụy với dân, với nước. Dù có ba người con là liệt sĩ, ông chưa từng đề nghị hưởng bất kỳ chế độ ưu đãi riêng nào cho bản thân hay gia đình. Sự lựa chọn ấy thể hiện sâu sắc phẩm chất của một người cách mạng luôn đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng.
Ngày 16-3-1988, Ngọc Đầu sư Nguyễn Văn Ngợi qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 88 tuổi. Cuộc đời ông trải qua nhiều chặng đường lịch sử đầy biến động của đất nước, từ những năm tháng đứng lớp, trở thành chức sắc Cao Đài đến những năm tháng trực tiếp tham gia cách mạng và hoạt động trong các tổ chức mặt trận.
Hơn tám thập kỷ sống và cống hiến, Nguyễn Văn Ngợi đã để lại dấu ấn của một nhà giáo tận tâm, một chức sắc Cao Đài yêu nước và một nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu. Điều xuyên suốt trong cuộc đời ông là tinh thần yêu nước, thương dân và ý thức vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tên tuổi Ngọc Đầu sư Nguyễn Văn Ngợi vì thế không chỉ gắn với lịch sử của phong trào Cao Đài yêu nước mà còn gắn với hành trình tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước. Những đóng góp của ông là một minh chứng sinh động cho sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc – giá trị đã được hun đúc qua lịch sử và tiếp tục có ý nghĩa sâu sắc trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

