Bài viết

NGỌN CỜ BẤT KHUẤT CỦA NAM BỘ KHÁNG PHÁP

Cần Thơ02/10/2026Đoàn phường Tân Tạo (Phường Tân Tạo)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

1. Mở đầu: Bối cảnh lịch sử và xuất thân bình dân

- Trong dòng chảy lịch sử chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ nổi lên như một bản hùng ca bi tráng. Giữa lúc triều đình nhà Nguyễn nhu nhược, từng bước nhân nhượng rồi đi đến ký kết các hiệp ước cắt đất cầu hòa, tinh thần quật khởi của nhân dân các tỉnh phương Nam vẫn bùng lên mạnh mẽ. Tiêu biểu cho ý chí sắt đá, không chịu khuất phục trước ách đô hộ của thực dân phương Tây chính là anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực – người xuất thân từ tầng lớp cần lao ven sông nước nhưng đã viết nên những trang sử chói lọi bằng lòng yêu nước nồng nàn và nghệ thuật chiến tranh nhân dân độc đáo.

Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực (Ảnh: Tư liệu)

- Nguyễn Trung Trực sinh năm Mậu Tuất (1838) tại xóm Lưới, làng Bình Đức, tổng An Định Hạ, huyện Cửu An, phủ Tân An (nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Tên khai sinh của ông là Nguyễn Văn Lịch, thời trẻ thường gọi là Chơn, sau đổi thành Nguyễn Trung Trực. Gia đình ông có nguồn gốc xa xưa từ huyện Phù Cát, phủ Quy Nhơn (tỉnh Bình Định ngày nay), sau đó di cư vào phương Nam mưu sinh bằng nghề chài lưới dọc đôi bờ sông Vàm Cỏ Đông.

- Lớn lên giữa vùng sông nước Cửu Long mênh mông, Nguyễn Trung Trực sớm rèn luyện được sức vóc vạm vỡ, giỏi bơi lội, thông thạo địa hình sông rạch và có tính cách cương trực, trượng nghĩa. Ông tiếp thu nền tảng văn hóa Nho học từ các bậc túc nho trong vùng, đồng thời rèn giũa võ nghệ dân gian, trở thành một thanh niên có uy tín lớn trong giới bình dân nghèo khổ. Khi tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp nổ ra tại Đà Nẵng (1858) rồi lan rộng vào Gia Định (1859), chàng trai làng chài Nguyễn Văn Lịch đã dứt khoát gác lại tay chài, tay lưới để đứng lên cầm vũ khí bảo vệ quê hương.

2. Giai đoạn 1 (1859 – 1862): Tham gia nghĩa quân và chiến công hiển hách trên sông Nhật Tảo

Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực (Ảnh: Tư liệu)

2.1. Đứng vào hàng ngũ nghĩa quân kháng Pháp

Tháng 2 năm 1859, liên quân Pháp – Tây Ban Nha tiến công hạ thành Gia Định. Sau khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ vào đầu năm 1861, thực dân Pháp mở rộng đánh chiếm các vùng phụ cận thuộc Định Tường, Biên Hòa và Tân An. Nhận thấy họa mất nước đã cận kề, Nguyễn Trung Trực tham gia đội quân đồn điền dưới sự chỉ huy của danh tướng Trương Định, sau đó đứng ra chiêu mộ nghĩa binh là những nông dân, ngư dân nghèo ở khu vực Tân An – Bến Lức.

Nhờ am hiểu tường tận địa thế sông rạch chằng chịt cùng các luồng lạch hiểm trở của miền Tây Nam Bộ, ông nhanh chóng xây dựng lực lượng nghĩa quân du kích cơ động, thoắt ẩn thoắt hiện, liên tục tổ chức các trận đánh úp vào các đồn bốt lẻ và đường dây tiếp tế hậu cần của giặc Pháp.

2.2. Chiến thắng rực rỡ đốt tàu Espérance tại Nhật Tảo (10/12/1861)

- Vào cuối năm 1861, quân Pháp kiểm soát gắt gao các trục giao thông thủy để phong tỏa đường tiếp tế gạo từ miền Tây lên Sài Gòn. Tiểu hạm L'Espérance (Hy Vọng) – một pháo hạm hiện đại bậc nhất của hải quân Pháp lúc bấy giờ, được trang bị đại bác hạng nặng và động cơ hơi nước – được phái đến neo đậu trên vàm sông Nhật Tảo (nay thuộc xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An) để khống chế toàn bộ khu vực.

- Nguyễn Trung Trực cùng ban chỉ huy nghĩa quân đã vạch ra một kế hoạch tập kích vô cùng táo bạo:

+ Hóa trang thâm nhập: Trưa ngày 10 tháng 12 năm 1861, ông cùng hàng chục nghĩa sĩ cảm tử cải trang thành đám buôn lúa gạo và lính bản xứ, đi trên nhiều ghe thuyền nhỏ tiếp cận pháo hạm Espérance xin giấy phép lưu thông.

+ Bất ngờ giáp lá cà: Khi tiếp cận sát mạn tàu, thừa lúc binh lính Pháp đang nghỉ trưa mất cảnh giác, nghĩa quân đồng loạt rút dao găm, mác búp mía, giáo mác nhảy lên boong tàu khống chế lính gác và áp đảo toàn bộ thủy thủ đoàn.

+ Hỏa công tiêu diệt tàu địch: Các nghĩa sĩ ném đuốc rơm tẩm dầu, lưu huỳnh vào kho đạn và buồng máy của pháo hạm, khiến ngọn lửa bùng cháy dữ dội.

- Tàu Espérance cùng viên chỉ huy Parfait và phần lớn sĩ quan, lính thủy Pháp bị tiêu diệt hoàn toàn; con tàu bốc cháy ngùn ngụt rồi chìm nghỉm dưới đáy sông Nhật Tảo. Đây là lần đầu tiên nghĩa quân Việt Nam tiêu diệt hoàn toàn một chiến hạm bọc thép hiện đại của thực dân Pháp, giáng đòn chí mạng vào uy thế quân sự phương Tây và làm nức lòng sĩ phu, nhân dân toàn cõi Nam Kỳ.

3. Giai đoạn 2 (1862 – 1867): Hoạt động tại Hà Tiên – Rạch Giá và kế sách giữ đất

- Năm 1862, triều đình Huế ký Hiệp ước Nhâm Tuất nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) cho Pháp. Triều đình hạ lệnh bãi binh và phong cho Nguyễn Trung Trực làm Quản cơ, điều động ông ra miền Trung (Bình Thuận, Khánh Hòa) nhằm cách ly ông khỏi phong trào kháng chiến của nhân dân địa phương.

- Tuy nhiên, trước nỗi đau non sông bị dày xéo, Nguyễn Trung Trực khước từ việc đầu hàng hay an phận làm quan thụ động. Ông xin triều đình bổ nhiệm về miền Tây, nhậm chức Lãnh binh phụ trách phòng thủ miền biên ải Hà Tiên – Rạch Giá.

- Tại vùng đất Tây Nam màu mỡ nhưng phức tạp này, ông thực hiện chiến lược toàn diện:

+ Đoàn kết các cộng đồng dân tộc: Vận động và kết nạp đồng bào các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa cùng tham gia phong trào chống giặc ngoại xâm.

+ Xây dựng căn cứ kháng chiến: Lập các đồn điền tự túc lương thực, tích trữ vũ khí, củng cố phòng tuyến dọc biên giới Hà Tiên và vùng rừng tràm U Minh, biến miền Tây Nam Bộ thành hậu phương kiên cố cho các lực lượng kháng Pháp.

- Tháng 6 năm 1867, quân Pháp bội ước, tiến quân đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) chỉ trong vòng vài ngày mà không tốn một viên đạn do sự bất lực của quan lại đầu triều. Thành Hà Tiên thất thủ, Nguyễn Trung Trực không chịu buông súng quy hàng mà chủ động rút toàn bộ lực lượng về vùng bến Hòn Chông (Kiên Lương), nương tựa vào sự đùm bọc của nhân dân để chuẩn bị cho giai đoạn tác chiến quyết liệt hơn.

4. Giai đoạn 3 (1868): Tập kích đồn Kiên Giang và những ngày cuối cùng tại Phú Quốc

- Năm 1868 đánh dấu đỉnh cao oanh liệt cũng như hồi kết bi tráng trong toàn bộ cuộc đời kháng chiến của Nguyễn Trung Trực. Tại đây, tài thao lược du kích và khí tiết của người anh hùng làng chài bộc lộ rõ nét nhất qua hai diễn biến mang tính bước ngoặt: trận tập kích đồn Kiên Giang và cuộc đối đầu sinh tử trên đảo Phú Quốc.

4.1. Kế hoạch và diễn biến trận tập kích đồn Kiên Giang (16/06/1868)

- Đồn Kiên Giang (đóng tại trung tâm tỉnh lỵ Rạch Giá) là sào huyệt quân sự kiên cố, cơ quan đầu não chỉ huy toàn bộ mạng lưới chiếm đóng của thực dân Pháp tại miền Tây Nam Kỳ. Để công phá một pháo đài trang bị hỏa lực hiện đại, Nguyễn Trung Trực đã dày công chuẩn bị và thi hành một kế sách táo bạo:

+ Chuẩn bị và cài cắm nội ứng: Trước ngày nổ súng nhiều tuần, ông bí mật móc nối với lực lượng lính bản xứ yêu nước bên trong đồn, điển hình là viên cai đội phụ trách canh gác. Nhờ đó, nghĩa quân nắm chắc lịch đổi gác, sơ đồ kho đạn, nơi ở của các sĩ quan chỉ huy và quy luật tuần tra của giặc.

+ Thời điểm xuất kích: Nửa đêm ngày 16, rạng sáng ngày 17 tháng 6 năm 1868, lợi dụng đêm tối và trời mưa dông làm giảm tầm quan sát của lính gác, Nguyễn Trung Trực chia nghĩa quân thành ba mũi giáp công:

Mũi 1 (Chính diện): Tiếp cận cổng đồn theo ám hiệu đã thống nhất từ trước với nội ứng bên trong.

Mũi 2 (Cắt đường rút): Đón lõng ngả đường hướng ra sông nhằm chặn đường viện binh và ghe tuần tiễu của đối phương.

Mũi 3 (Đánh chiếm kho khí giới): Sẵn sàng đoạt súng ống, đạn dược của địch để trang bị ngay cho nghĩa quân.

- Diễn biến giáp lá cà: Đúng canh hai, khi nội ứng mở cửa đồn, Nguyễn Trung Trực tự mình tuốt gươm dẫn đầu toán cảm tử xông thẳng vào dinh chỉ huy. Bị tập kích bất ngờ khi đang ngủ say, quân Pháp hoàn toàn vỡ trận, không kịp tổ chức kháng cự:

+ Nghĩa quân tiêu diệt tại chỗ Trung úy Charnier (Chủ tỉnh kiên viên sĩ quan chỉ huy đồn), một Trung úy phó đồn và phần lớn lính lê dương, lính tập.

+ Thu hồi hơn 100 khẩu súng trường, hàng vạn viên đạn, đại bác và toàn bộ lương thực, công quỹ trong đồn.

- Kết quả: Nghĩa quân làm chủ trung tâm Rạch Giá liên tục suốt gần một tuần lễ. Đây là chiến tích chưa từng có tại Nam Bộ thời bấy giờ: lần đầu tiên lực lượng khởi nghĩa người Việt tiêu diệt hoàn toàn một đồn luy đầu não của cấp tỉnh lỵ do sĩ quan chính quy Pháp chỉ huy.

4.2. Rút ra đảo Phú Quốc và cuộc chiến không cân sức

- Bị giáng một đòn choáng váng làm chấn động cả dinh Thống đốc Nam Kỳ ở Sài Gòn, thực dân Pháp lập tức huy động lực lượng phản công quy mô lớn:

+ Quân Pháp phản kích: Đích thân Thống đốc Nam Kỳ Ohier điều động Trung tá hải quân Ansart chỉ huy hàng trăm lính viễn chinh lê dương thiện chiến cùng pháo hạm, đại bác từ Vĩnh Long và Định Tường rầm rộ đổ bộ tái chiếm Rạch Giá.

+ Quyết định rút quân ra đảo: Biết khó đương cự lâu dài với hỏa lực vượt trội của đại bác tàu chiến trên địa hình đồng bằng trống trải, Nguyễn Trung Trực chủ động hạ lệnh rút quân ra đảo Phú Quốc để bảo toàn thực lực. Ông chọn khu vực sông Cửa Cạn – nơi có địa hình rừng ngập mặn rậm rạp, hiểm trở làm căn cứ địa lâu dài.

+ Chiến tranh tiêu hao tại Cửa Cạn: Suốt từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1868, quân Pháp bao vây phong tỏa toàn bộ hòn đảo. Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân dựa vào rừng rậm tổ chức phục kích liên tục, bẻ gãy nhiều đợt đổ bộ của giặc, diệt hàng chục lính viễn chinh thám thính. Tuy nhiên, do bị cắt đứt hoàn toàn đường tiếp tế từ đất liền, nghĩa binh dần rơi vào tình cảnh kiệt quệ vì sốt rét, thiếu đạn dược và cạn kiệt lương thực.

4.3. Bẫy con tin thâm độc của giặc và quyết định nộp mình vì đại cuộc

- Nhận thấy không thể dùng vũ lực để khuất phục toán nghĩa quân ngoan cường trong rừng sâu, thực dân Pháp chuyển sang thủ đoạn tâm lý tàn nhẫn:

+ Bắt thân nhân làm con tin: Quân Pháp truy lùng, bắt giữ mẹ già của Nguyễn Trung Trực và gia quyến của các chỉ huy nghĩa sĩ giam giữ tại đồn.

+ Đe dọa tàn sát thường dân: Viên chỉ huy Pháp phát tối hậu thư: nếu Nguyễn Trung Trực không chịu ra nộp mình, chúng sẽ xử tử mẹ ông và thảm sát toàn bộ nhân dân các làng chài trên đảo Phú Quốc.

- Đứng trước sự giằng xé tột cùng giữa đại nghĩa và chữ hiếu, giữa mạng sống cá nhân và sinh mệnh của hàng trăm đồng bào vô tội, Nguyễn Trung Trực không chọn cách lẩn tránh. Để bảo toàn mạng sống cho mẹ già, giải cứu nhân dân và giữ cho nghĩa quân một con đường sống, vào cuối tháng 9 năm 1868, ông tự mình bước ra khỏi căn cứ Cửa Cạn nộp mình cho giặc.

4.4. Khí tiết bất khuất và bản hùng ca bên đoạn đầu đài (27/10/1868)

- Sau khi bắt được ông, thực dân Pháp giải Nguyễn Trung Trực về giam tại khám đường Sài Gòn rồi đưa về Rạch Giá.

- Từ chối vinh hoa phú quý: Kẻ thù vừa dùng các cực hình tra tấn khốc liệt, vừa tìm cách chiêu dụ. Viên Việt gian Đỗ Thành Nhơn và các sĩ quan Pháp hứa hẹn sẽ ban cho ông chức Tổng đốc, đất đai bổng lộc nếu ông chịu hợp tác và quy thuận mẫu quốc. Nguyễn Trung Trực khảng khái gạt phắt:

"Tôi chỉ muốn làm một chức phận: chức đuổi bọn thực dân ra khỏi bờ cõi nước tôi!"

- Bản án tử hình tại chợ Rạch Giá: Thất bại trong việc mua chuộc, thực dân Pháp vội vã kết án tử hình ông để dập tắt ngọn lửa đấu tranh của nhân dân Tây Nam Bộ. Ngày 27 tháng 10 năm 1868 (nhằm ngày 12 tháng 9 năm Mậu Thìn), chúng đưa Nguyễn Trung Trực ra xử chém tại bãi chợ Rạch Giá (khu vực công viên bờ sông hiện nay).

- Lời tuyên ngôn bất tử: Trước mặt đông đảo đồng bào và binh lính Pháp dàn hàng bao vây, khi viên chủ tỉnh hỏi ông có ân hận hay còn lời trăn trối cuối cùng, người anh hùng 30 tuổi đã ngẩng cao đầu, dõng dạc nói lời đanh thép:

"Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây!"

- Nhát chém của quân thù cướp đi sinh mạng một thủ lĩnh kiên trung, nhưng câu nói ấy đã trở thành một biểu tượng tinh thần quật cường, khắc ghi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc như một lời khẳng định đanh thép về ý chí sinh tồn và độc lập bất diệt của non sông Việt Nam.

4.1. Trận tập kích đồn Rạch Giá (16/06/1868)

- Đồn Kiên Giang (đặt tại trung tâm Rạch Giá) là cơ quan đầu não chỉ huy chiếm đóng miền Tây Nam Kỳ của thực dân Pháp, được xây dựng kiên cố và canh phòng cẩn mật. Sau nhiều tuần trinh sát kỹ lưỡng và xây dựng cơ sở nội ứng bên trong đồn, đêm 16 rạng sáng ngày 17 tháng 6 năm 1868, Nguyễn Trung Trực phát động cuộc tiến công chớp nhoáng:

+ Nghĩa quân phối hợp với lực lượng nội ứng đánh úp bất ngờ từ nhiều hướng, tràn vào tiêu diệt sạch sở chỉ huy.

+ Kết quả, nghĩa quân diệt gọn tên chủ tỉnh Charnier, viên phó đồn cùng hàng chục lính viễn chinh Pháp và tay sai, thu hồi toàn bộ kho vũ khí, quân trang, quân dụng.

+ Nghĩa quân làm chủ trung tâm Rạch Giá suốt gần một tuần lễ, gây chấn động dinh Thống đốc Nam Kỳ tại Sài Gòn.

+ Chiến thắng đồn Kiên Giang ghi dấu ấn lịch sử như một trong những chiến công hiếm hoi mà nghĩa quân đánh tan cơ quan hành chính – quân sự đầu não của thực dân Pháp tại một tỉnh lỵ Nam Bộ.

4.2. Rút về Phú Quốc và tấm gương kiên trung bất khuất

- Bị giáng đòn bất ngờ, thực dân Pháp điều động binh hùng tướng mạnh cùng nhiều tàu chiến tối tân dưới sự chỉ huy trực tiếp của Trung tá hải quân Ansart phản công dữ dội. Để bảo toàn lực lượng, Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân rút ra đảo Phú Quốc, lập căn cứ tại Cửa Cạn, dựa vào địa hình rừng núi hiểm trở để tiến hành chiến tranh tiêu hao lâu dài.

Quân Pháp bao vây phong tỏa toàn bộ đường biển, đồng thời sử dụng thủ đoạn thâm độc: bắt giữ mẹ già của ông, uy hiếp sinh mạng của gia đình các nghĩa sĩ và đe dọa thảm sát hàng trăm thường dân trên đảo nếu nghĩa quân không hạ vũ khí.

- Trước tình thế hiểm nghèo, nhằm cứu nhân dân vô tội và giữ trọn chữ hiếu, Nguyễn Trung Trực quyết định nộp mình cho giặc vào tháng 9 năm 1868. Giặc Pháp vừa dụ dỗ ông bằng tiền tài, chức tước, vừa dùng đủ cực hình tra tấn dã man nhưng không suy chuyển được tấc lòng trung trinh ái quốc của vị thủ lĩnh kiên trung.

          - Ngày 27 tháng 10 năm 1868 (nhằm ngày 12 tháng 9 năm Mậu Thìn), thực dân Pháp đem ông ra xử chém tại chợ Rạch Giá. Trước khi bước lên đoạn đầu đài, khi viên chủ tỉnh Pháp hỏi ông có ân hận hay mong muốn điều gì, Nguyễn Trung Trực đã hiên ngang buông lời đanh thép:

"Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây!"

- Lời tuyên ngôn bất hủ ấy đã trở thành chân lý lịch sử, khắc sâu ý chí độc lập không gì lay chuyển nổi của toàn thể dân tộc Việt Nam.

5. Ý nghĩa lịch sử, đánh giá công lao và di sản bất tử

- Cuộc đời và sự nghiệp đánh giặc cứu nước của Nguyễn Trung Trực tuy ngắn ngủi (ông hy sinh khi mới 30 tuổi) nhưng đã để lại dấu son rực rỡ trong trang sử cận đại Việt Nam. Nhà thơ yêu nước Huỳnh Mẫn Đạt khi viếng ông đã đúc kết trọn vẹn hai chiến công hiển hách qua đôi câu đối bất hủ:

Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa,

Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.

(Lửa bừng Nhật Tảo rung trời đất,

Kiếm tuốt Kiên Giang quỷ khóc thần).

5.1. Giá trị nghệ thuật quân sự

- Nguyễn Trung Trực là một bậc thầy về nghệ thuật chiến tranh nhân dân địa phương. Ông đã vận dụng triệt để:

+ Chiến thuật tập kích bất ngờ: Tận dụng địa hình sông nước miền Tây, dùng hỏa công đánh úp tiêu diệt các phương tiện cơ giới hiện đại bậc nhất của đối phương.

+ Thế trận lòng dân: Gắn kết bền chặt nghĩa quân với người dân nghèo, đồng bào Khmer và người Hoa, chứng minh rằng vũ khí tối tân không thể khuất phục được tinh thần đoàn kết toàn dân tộc.

5.2. Di sản tâm linh và văn hóa dân tộc

- Sau khi ông hy sinh, nhân dân Nam Bộ đã bí mật lập đền thờ ông tại nhiều nơi: Rạch Giá, Phú Quốc (Kiên Giang), Bến Lức (Long An) và vùng Châu Đốc (An Giang). Đền thờ Nguyễn Trung Trực tại thành phố Rạch Giá hàng năm thu hút hàng triệu lượt đồng bào khắp cả nước về tham dự lễ hội truyền thống, tôn vinh ông như một vị thần hộ quốc an dân.

- Hình tượng Nguyễn Trung Trực không chỉ sống mãi trong sử sách mà còn là biểu tượng rực sáng của lòng kiên trinh, tinh thần xả thân vì nghĩa lớn và niềm tin son sắt vào độc lập, tự do của Tổ quốc.

Tài liệu:

1.    Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1971), Lịch sử Việt Nam (Tập 2), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.

2.    Trần Văn Giàu (2001), Chống xâm lăng (Toàn tập), Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

3.    Nguyễn Phan Quang (1998), Phong trào kháng Pháp của đồng bào Nam Bộ (1859 - 1885), Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

4.    Hội đồng Nhân dân & Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang (2003), Kỷ yếu hội thảo khoa học: Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

5.    Đại Nam thực lục chính biên – Quốc sử quán triều Nguyễn, Bản dịch của Viện Sử học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2007.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
NGỌN CỜ BẤT KHUẤT CỦA NAM BỘ KHÁNG PHÁP | Câu chuyện thời hoa lửa