Ngọn cờ cách mạng công khai cắm tại Sài Gòn 1955-1958
Cuộc kháng chiến 9 năm với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, kết hợp với đấu tranh ngoại giao của ta đã buộc thực dân Pháp và can thiệp Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, ký kết Hiệp định Giơnevơ lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương; các nước dự hội nghị tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Cămpuchia. Đây là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta trên con đường đi tới hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước.
Chín năm kháng chiến chống quân Pháp xâm lược trên cả nước, đã đi đến chiến thắng vang dội ở Điện Biên Phủ và nhiều nơi khác. Thực dân Pháp buộc phải trở lại bàn đàm phán, ký vào bản Hiệp định Giơnevơ, công nhận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Cămpuchia và Lào. Lịch sử của Cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng, nhưng miền Nam tạm thời do đối phương kiểm soát, phải chuyển từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị.
Hội nghị Giơnevơ (1954), là một hội nghị quốc tế, do Liên Xô và Anh làm đồng chủ tịch. Sau khi kết thúc phần một, bàn về Triều Tiên, Hội nghị tiếp sang phần hai, bàn về Đông Dương, với sự có mặt của 9 đoàn đại biểu, trong đó có 5 cường quốc: Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Pháp và Mỹ. Đấu tranh ở Hội nghị, không chỉ giữa ta và Pháp mà còn giữa 5 cường quốc nên rất phức tạp. Khác với Hội nghị Pari sau này, mà thực chất là hội nghị giữa ta và Mỹ, bên ta hoàn toàn chủ động.
Lúc bấy giờ, tương quan lực lượng ở chiến trường Đông Dương sau Điện Biên Phủ, xét về lực giữa ta và quân đội Liên hiệp Pháp có thể ngang nhau, nhưng về thế ta hơn hẳn. Quân địch thì tinh thần suy sụp, còn quân dân ta đang bừng bừng khí thế và đang ở thế tấn công trên các chiến trường, cộng với sự giúp đỡ của các nước anh em. Cho nên, nếu tiếp tục cuộc chiến thì khó khăn gì ta cũng vượt qua được.
Tuy ta mới giải phóng hoàn toàn được một nửa đất nước, nhưng đây là lãnh thổ có đường nối liền với Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khác, trong tình huống xấu nhất cũng đủ điều kiện xây dựng thành hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà sau này. Chúng ta lại có thêm cơ sở pháp lý để phát triển các hoạt động ngoại giao, tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta.
Mấy ngày sau khi ký Hiệp định Giơnevơ, Hội nghị hai bên: Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân đội Liên hiệp Pháp được tổ chức ở Phúc Yên tại Trung Giã là vùng nằm giữa Hà Nội và Thái Nguyên, để thu xếp việc thực hiện đình chiến trên toàn chiến trường Đông Dương. Hội nghị Trung Giã quyết định lập ra ở Việt Nam Ủy ban Liên hợp đình chiến Trung ương và ba Ủy ban Liên hợp đình chiến địa phương: Ủy ban Liên hợp đình chiến Bắc Bộ, Ủy ban Liên hợp đình chiến Trung Bộ và Ủy ban Liên hợp đình chiến Nam Bộ. Mỗi Ủy ban Liên hợp đình chiến có số lượng sĩ quan của hai bên ngang nhau. Việc thực hiện đình chiến và tập kết quân đội hai bên sang hai miền Nam, Bắc, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời, diễn ra khá suôn sẻ.
Phái đoàn quân sự Việt Nam ở Hội nghị Trung Giã do Thiếu tướng Văn Tiến Dũng làm trưởng đoàn và có các ủy viên: Song Hào, Lê Quang Đạo, Nguyễn Văn Long, Lê Minh Nghĩa. Phái đoàn quân sự Pháp do Thiếu tướng Delteil cầm đầu.
Sau Hội nghị Trung Giã, tôi được phái vào miền Nam. Máy bay Pháp đưa tôi đến sân bay Quy Nhơn. Từ đó tôi vào Khu ủy 5 để báo cáo với đồng chí Lê Duẩn về những ý kiến chỉ đạo của Bác Hồ và Thường vụ Trung ương Đảng. Chủ trương quan trọng nhất đối với miền Nam là: Để lại vũ khí thích hợp, cất giấu chu đáo, để khi cần thiết đem ra sử dụng. Cán bộ quân sự tập kết ra miền Bắc là 1/3, cán bộ chính trị 1/2, các cơ sở Đảng và tổ chức quần chúng phải tinh giảm, bố trí hết sức bí mật. Cán bộ đã bị lộ phải tập kết ra miền Bắc, cán bộ đảng viên ở lại hoạt động phải thay đổi địa bàn, v.v..
Sau khi vào Nam Bộ với đồng chí Lê Duẩn, tôi được chỉ định ở lại công tác trong Ủy ban Liên hợp đình chiến Nam Bộ với đồng chí Phạm Hùng, đóng tại Phụng Hiệp (Cần Thơ).
Khi chuyển quân tập kết ở Nam Bộ sắp xong, ta chuẩn bị nhân sự cho Phái đoàn Liên lạc Quân đội Nhân dân Việt Nam bên cạnh Ủy ban Quốc tế ở Sài Gòn. Cho đến khi chuyến tàu tập kết cuối cùng rời bến sông Ông Đốc, thì Phái đoàn Liên hiệp đình chiến Nam Bộ và Phái đoàn Sài Gòn cùng ra Hà Nội theo chuyến tàu của Ba Lan và máy bay của Pháp tại sân bay Sóc Trăng vào ngày 28-2-1955.
Cuộc đấu tranh với Bộ Tổng chỉ huy Quân đội Liên hiệp Pháp tại Đông Dương để thành lập cho được Phái đoàn Sài Gòn, có ý nghĩa rất quan trọng, vì đó là ngọn cờ cách mạng công khai cắm tại Sài Gòn. Thư đi thư lại rất lâu giữa ta với Pháp, Ủy ban Quốc tế và chính quyền Sài Gòn mãi đến ngày 31-3-1955 việc lập ra Phái đoàn ta ở Sài Gòn mới được chấp nhận. Hiệp định Giơnevơ, chủ yếu là Hiệp định đình chiến, với tổ chức Ủy ban Quốc tế là cơ quan kiểm sát đình chiến, nên Phái đoàn ta có tên gọi là “Phái đoàn liên lạc Quân đội Nhân dân Việt Nam ở Sài Gòn”, về nội dung, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Đồng chí Phạm Hùng, lúc đó là ủy viên Trung ương Đảng được chỉ định làm Trưởng Phái đoàn và đại diện Bộ tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam bên cạnh Ủy ban Kiểm soát Quốc tế ở Việt Nam tại Sài Gòn. Những cán bộ cốt cán khác đều có trình độ chính trị vững vàng. Pháp và chính quyền Sài Gòn tìm mọi cách để hạn chế ảnh hưởng của Phái đoàn ta như không cho treo cờ Tố quốc bên ngoài trụ sở của Phái đoàn, chỉ cho đi lại trong phạm vi Sài Gòn - Gia Định, không cho cắm cờ trên xe khi chạy trong thành phố, v.v..
Đầu tháng 3 năm 1955, đồng chí Phạm Hùng cho một bộ phận tiền trạm vào Sài Gòn để cùng với Pháp lo thu xếp trụ sở của Phái đoàn. Cho đến ngày 17-5-1955, tôi và các cán bộ của Phái đoàn, gồm tất cả 16 người, vào Sài Gòn trên hai chiếc máy bay của quân đội Pháp. Khi Phái đoàn đến sân bay Tân Sơn Nhất, có đại diện Ủy ban Quốc tế ra đón. Riêng các đồng chí Phái đoàn Ba Lan cùng đi theo chúng tôi về trụ sở Phái đoàn ở Gia Dịnh (nay là số nhà 87A đường Trần Kế Xương, phường 7, quận Phú Nhuận). Mấy ngay sau đó đồng chí Phạm Hùng vào Sài Gòn.



