"Ngọn đèn 200 nến” và hành trình đến “Đề cương cách mạng miền Nam”
Tổng Bí thư Lê Duẩn thuộc lớp cán bộ đầu tiên của Đảng ta đi theo con đường cách mạng của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, là học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh...
Tổng Bí thư Lê Duẩn thuộc lớp cán bộ đầu tiên của Đảng ta đi theo con đường cách mạng của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, là học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với tôi, ông là người ở trên cao. Tôi chỉ được biết về ông qua hai kênh: Tư liệu văn bản, tác phẩm của ông để lại và lời kể của nhân chứng lịch sử mà tôi từng được tiếp xúc trong quá trình làm công tác nghiên cứu lịch sử quân sự ở Nam Bộ. Vì sự khốc liệt của chiến tranh mà tư liệu về ba mươi năm kháng chiến còn lại không nhiều. Chúng tôi phải dựa một phần lớn vào nguồn sử liệu trí nhớ của người trong cuộc. Gặp bất cứ ai trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, từ cán bộ lãnh đạo Đảng như: Phan Văn Đáng, Phạm Văn Xô, Trần Bạch Đằng...; cán bộ chỉ huy quân sự như: Trần Văn Trà, Nguyễn Hữu Xuyến, Lê Văn Tưởng...; các trí thức như: Phạm Thiều, Nguyễn Thành Vĩnh; cho đến những cán bộ cấp tỉnh, cấp trung đoàn, tôi đều được nghe họ nhắc đến Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn bằng tên gọi trân kính Anh Ba, hoặc Deux Cents Bougies (tiếng Pháp: Ngọn đèn 200 nến). Là người lãnh đạo cao nhất tại Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp và giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vai trò của ông ghi dấu trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa-xã hội. Một trong những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp cách mạng là việc cho ra đời “Đề cương cách mạng miền Nam”. Đây là kết quả của một hành trình khoa học và thực tiễn của ông trong những năm tháng bám đất, bám dân Nam Bộ lãnh đạo cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ xin điểm lại một số dấu ấn quan trọng trong hành trình đến với “Đề cương cách mạng miền Nam” của ông.
"Mặt trận cao su chiến”
Sau ngày 23-9-1945, bám gót đội quân viễn chinh xâm lược, các công ty tư bản Pháp quay trở lại Việt Nam tái chiếm đồn điền cao su, khai thác phục vụ cho cuộc chiến tranh và làm giàu cho nước Pháp đang bị kiệt quệ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Liên hiệp nghiệp đoàn Nam Bộ chỉ đạo công nhân các đồn điền cao su mở “mặt trận cao su chiến”, “phá hoại kinh tế của tư bản Pháp”. Thực hiện chủ trương trên, phong trào phá hoại cao su diễn ra rầm rộ. Trong năm 1947, công nhân cao su đã chặt và vạt vỏ 10.200 mẫu cây cao su, đốt 5 triệu cây, phá dụng cụ, máy móc, gây thiệt hại cho địch hơn 3.000.000 đồng (tiền Đông Dương ngân hàng).
Tại Hội nghị công nhân toàn xứ Nam Bộ (ngày 5 và 6-5-1948), sau khi nghe báo cáo của Liên đoàn cao su về kết quả “mặt trận cao su chiến”, Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn biểu dương thành tích đã đạt được; tuy nhiên ông yêu cầu cần thay đổi phương thức phá hoại kinh tế của địch. Ông nói: Cao su là tài nguyên của đất nước, do xương máu của công nhân xây dựng nên. Khi chúng ta giành được độc lập, đó sẽ là nguồn tài sản to lớn để làm giàu cho đất nước. Vì thế tôi đề nghị, công tác phá hoại cao su từ nay không đốt vườn cây, chặt hoặc vạt vỏ cây, mà chuyển sang làm giảm tốc độ sản xuất, giảm mức thu hoạch thành phẩm và lợi nhuận của tư bản Pháp; như đập bể chén hứng mủ, bẻ gãy máng mủ, đốt mủ, đổ mủ xuống đất, phục kích thiêu hủy các đoàn xe chở mủ cao su từ đồn điền về Sài Gòn để xuất khẩu.
Ý kiến chỉ đạo của Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn đã định hướng hoạt động phá hoại kinh tế địch của quân và dân Nam Bộ không chỉ trên lĩnh vực cao su mà ở cả các ngành kinh tế khác sau đó. Nhờ thế, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, chúng ta tiếp quản, quản lý được gần 45.000ha cao su, làm cơ sở ban đầu để phát triển cao su thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn sau này.
Cuộc thanh trừng Bình Xuyên
Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, lực lượng vũ trang tập trung ở Nam Bộ ra đời ào ạt, trong đó có các đơn vị vũ trang Bình Xuyên (vốn hình thành từ những băng nhóm trộm cướp giang hồ trước đó). Toàn Nam Bộ có 25 chi đội thì có đến 7 chi đội bộ đội Bình Xuyên (phiên hiệu 2, 3, 4, 7, 9, 21, 25). Từ năm 1947, nội bộ bộ đội Bình Xuyên xuất hiện khuynh hướng cát cứ. Phòng Nhì Pháp cài gián điệp vào Ban chỉ huy liên khu Bình Xuyên của Lê Văn Viễn, lôi kéo Viễn sa vào con đường ăn chơi, để mặc một số chi đội bỏ bê việc đánh giặc, tùy tiện thu thuế nhân dân, tranh cướp chiến lợi phẩm trong các trận đánh của các đơn vị khác, thủ tiêu cán bộ đảng viên. Trước tình hình đó, một số cán bộ trong Bộ tư lệnh Nam Bộ và Khu ủy Khu 7 quyết định thanh trừng các phần tử phản động và gián điệp trong nội bộ Bình Xuyên. Kế hoạch tổ chức một cuộc tiến công lớn vào Rừng Sác được đề ra và thực hiện hết sức bí mật.
Tại Văn phòng Xứ ủy, nhận được tin báo, Bí thư Lê Duẩn lập tức chỉ đạo đình chỉ ngay cuộc thanh trừng. Nhưng Rừng Sác mênh mông, các đơn vị tiến công ém quân phân tán khắp các kênh rạch, nên lệnh đình chỉ không đến kịp. Cuộc thanh trừng do đó vẫn diễn ra đúng kế hoạch.
Việc loại bỏ những phần tử phản động và gián điệp trà trộn trong một số đơn vị Bình Xuyên là cần thiết, nhưng không cần đến một cuộc thanh trừng lớn gây xáo trộn nội bộ và mất lòng tin trong cán bộ, chiến sĩ bộ đội Bình Xuyên. Bí thư Xứ ủy yêu cầu số cán bộ chủ trương thực hiện cuộc thanh trừng kiểm điểm rút kinh nghiệm; đồng thời chỉ đạo tổ chức lại lực lượng vũ trang, xây dựng các trung đoàn tập trung, xây dựng sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ quân đội. Ông kiên quyết đấu tranh chống biểu hiện độc đoán, quân phiệt, anh hùng cá nhân, bè phái và cục bộ địa phương trong một số cán bộ quân đội; chỉ đạo thực hiện dân chủ quân sự, nâng cao tính chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong lực lượng vũ trang. Từ năm 1951, ông kiêm giữ trách nhiệm Chính ủy lực lượng vũ trang Nam Bộ, trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang ba thứ quân xây dựng, chiến đấu và công tác.
Trưởng phòng Dân quân Nam Bộ
Năm 1948, tổ chức quân sự địa phương ở Nam Bộ lần lượt được thành lập. Nhận thức vai trò quan trọng của lực lượng dân quân trong chiến tranh, Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn trực tiếp kiêm giữ trách nhiệm Trưởng phòng Dân quân Nam Bộ. Trên cương vị này, ông đã chỉ đạo xây dựng hệ thống tổ chức và phát triển lực lượng dân quân trên khắp các vùng kháng chiến. Các khu đều thành lập Ban dân quân. Các địa phương thành lập tỉnh đội dân quân, huyện đội dân quân, xã đội dân quân trực thuộc Ủy ban Kháng chiến-hành chánh mỗi cấp. Tính đến cuối năm 1948, tổng số dân quân du kích ở Nam Bộ lên đến 270.593 người. Trung bình mỗi tháng trong các tỉnh bị địch chiếm đóng nhiều, dân quân đã cùng bộ đội chiến đấu khoảng 300 trận.
Từ năm 1949, thực hiện chủ trương “chuyển mạnh sang tổng phản công”, các khu ở Nam Bộ tập trung phát triển lực lượng chủ lực, xây dựng các liên trung đoàn. Việc rút lực lượng xây dựng bộ đội chủ lực đã làm cho bộ đội địa phương và dân quân ở cơ sở trở nên yếu, quân địch thừa cơ tấn công càn quét gây cho ta rất nhiều khó khăn. Trước tình hình trên, Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn chỉ thị “gấp rút chấn chỉnh, sửa chữa sai lầm trong tư tưởng, tổ chức xây dựng lực lượng quân đội và phương thức tác chiến”. Phát biểu tại Hội nghị quân sự Nam Bộ do Xứ ủy triệu tập, tháng 9-1949, ông phê phán tư tưởng coi nhẹ vai trò của dân quân và bộ đội địa phương. Ông nói: Chỉ có thể xây dựng một đội quân chủ lực mạnh và tổ chức những trận đánh lớn khi chúng ta có lực lượng dân quân và bộ đội địa phương hùng hậu trên nền tảng phong trào chiến tranh du kích phát triển.
Chỉ đạo của ông đã kịp thời uốn nắn những lệch lạc trong phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân và đấu tranh quân sự, đề ra những nhiệm vụ sát hợp với thực tiễn chiến trường Nam Bộ, thiết thực thúc đẩy phong trào chiến tranh nhân dân phát triển.
"Đề cương cách mạng miền Nam”
Sau năm 1954, đế quốc Mỹ ra sức phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, trực tiếp nhảy vào miền Nam Việt Nam, thiết lập thể chế chính trị thân Mỹ, áp đặt chính sách thực dân kiểu mới, xây dựng bộ máy bạo lực phản cách mạng và sử dụng bộ máy ấy để đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng miền Nam. Nhân dân ta không thể đơn phương thực hiện nội dung các điều khoản của Hiệp định đã được ký kết. Cách mạng miền Nam cần một đường hướng mới.
Trước thực tiễn lịch sử và yêu cầu bức xúc của cách mạng lúc bấy giờ, được sự đồng ý của Trung ương Đảng, Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn không tập kết ra miền Bắc mà bí mật ở lại miền Nam để trực tiếp nghiên cứu tình hình. Và ông đã soạn thảo “Đề cương cách mạng miền Nam”. Đề cương xác định tính chất của xã hội miền Nam là xã hội thuộc địa kiểu mới, chính quyền miền Nam hiện tại là tay sai của đế quốc Mỹ; và để chống lại nó, không còn con đường nào khác là con đường cách mạng, sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để đánh đổ chính quyền tay sai thân Mỹ.
"Đề cương cách mạng miền Nam” trong thực tế đã trở thành cẩm nang hành động của quân và dân miền Nam trước khi có Nghị quyết 15, đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học để Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 xác quyết đường hướng cách mạng miền Nam, mở ra Phong trào Đồng Khởi và tiến trình cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau đó.
Những đóng góp của ông cả về lý luận lẫn thực tiễn là hết sức to lớn. Ông là “ngọn đèn 200 nến”, người uốn nắn chỉ đường cho cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, một trong những kiến trúc sư của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, và là người đặt những tiền đề quan trọng cho công cuộc đổi mới đất nước sau này. 60 năm đã trôi qua, tư tưởng chỉ đạo trong “Đề cương cách mạng miền Nam” vẫn nguyên giá trị và tính thời sự trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta hiện nay.


