Cựu chiến binh

Ngọn đèn bão bên Ga Yên Lý

Nghệ An20/08/2026Xã Hùng Châu (Đoàn xã Hùng Châu)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiều ấy, mấy đứa trẻ trong xóm kéo đến nhà ông Mộc để nghe kể chuyện. Ông không mang huân chương, cũng chẳng mở cuốn sổ thành tích nào. Ông chỉ đi vào buồng, lấy ra một chiếc đèn bão đã cũ. Vành đèn han gỉ, mặt kính ám màu khói, chiếc quai sắt chạm nhẹ vào nhau phát ra tiếng leng keng.

Ông đặt ngọn đèn giữa bàn rồi chậm rãi bảo:

“Ngày trước, có những đêm cả làng mình chỉ mong ngọn đèn ni đừng tắt.”

Ông Mộc sinh năm 1947 ở làng Yên Lý. Tuổi thơ của ông gắn với tiếng còi tàu, với những đoàn toa chạy qua Ga Yên Lý và mùi than khói vương trên mái nhà. Lũ trẻ trong làng khi ấy thường đứng từ xa đếm từng toa tàu. Chúng không biết những chuyến tàu ấy đi đâu, chỉ thấy mỗi lần đoàn tàu rời ga, người lớn lại nhìn theo thật lâu.

Năm 1965, chiến tranh phá hoại miền Bắc ngày càng ác liệt. Tuyến đường sắt trở thành mạch giao thông quan trọng, đưa người và hàng hóa vào phía Nam. Ga Yên Lý vì thế luôn phải duy trì hoạt động trong hoàn cảnh khó khăn. Khi vừa tròn mười tám tuổi, Mộc tham gia dân quân và được phân công phối hợp bảo đảm an toàn khu vực nhà ga.

Công việc của ông không phải lúc nào cũng diễn ra giữa tiếng bom. Phần nhiều là những việc nhỏ và lặng lẽ: kiểm tra lối đi, hỗ trợ chuyển hàng, nhắc người dân không tụ tập gần đường tàu, hướng dẫn trẻ em xuống nơi trú ẩn khi có báo động. Ban đêm, ông cùng các anh lớn tuổi hơn thay nhau trực. Chiếc đèn bão được che kín ba phía, chỉ để lọt một vệt sáng nhỏ xuống mặt đất.

“Thời đó, ánh sáng cũng phải biết giữ gìn,” ông kể. “Đèn sáng quá thì nguy hiểm, mà tắt hẳn lại không nhìn thấy đường. Thành thử người trực đèn phải kiên nhẫn lắm.”

Một đêm mùa hè năm 1968, cả vùng đang im thì tiếng còi báo động vang lên. Dân làng vội đưa người già và trẻ nhỏ xuống hầm. Ở phía nhà ga, một đoàn tàu chở hàng đang chờ được hướng dẫn qua khu vực. Mộc cùng tổ dân quân chạy đến vị trí đã phân công. Chiếc đèn bão trong tay ông khi ấy chỉ sáng bằng hạt ngô, nhưng từng tín hiệu nhỏ đều phải rõ ràng.

Sau đợt đánh phá, một đoạn đường gần ga bị hư hỏng. Đất đá vương trên mặt đường, một số thanh tà vẹt bị xô lệch. Không ai đợi trời sáng. Dân quân, công nhân đường sắt và người dân trong làng cùng mang cuốc, xẻng ra khắc phục. Người xúc đất, người chuyển đá, người chăm sóc những người bị choáng và đưa nước uống đến từng nhóm.

Bà con làm việc trong ánh sáng mờ của những ngọn đèn được che kín. Một bác thợ đường sắt quỳ xuống xem xét từng đoạn ray. Mộc đứng bên, cầm đèn thật thấp để bác nhìn rõ mà từ xa không thấy ánh sáng. Gió đêm thổi qua cánh đồng, có lúc làm ngọn lửa trong đèn chao nghiêng. Mộc lấy bàn tay che lại, sợ nó tắt.

Gần sáng, tuyến đường tạm thời được khôi phục. Khi tiếng bánh sắt đầu tiên chầm chậm lăn qua, không ai reo lớn. Mọi người chỉ nhìn nhau, nở những nụ cười mệt nhưng nhẹ nhõm. Đoàn tàu đi dần về phía Nam, để lại sau lưng một vệt khói mỏng.

Trong ký ức ông Mộc, điều đáng nhớ nhất không phải riêng việc mình đã làm được gì. Ông nhớ cụ già trong làng mang nồi nước chè xanh ra cho mọi người. Ông nhớ những người phụ nữ vừa gửi con dưới hầm vừa ra chuyển đất. Ông nhớ anh công nhân đường sắt bàn tay chai sần, làm việc suốt đêm mà không một lời than vãn.

Vài ngày sau, Mộc gặp một em nhỏ đứng gần ga. Em hỏi vì sao người lớn phải thức đêm nhiều thế. Mộc chưa biết trả lời sao cho em hiểu, chỉ bảo rằng mọi người cố giữ đường tàu thông suốt để những người ở xa nhận được lương thực, thuốc men và thư nhà.

Từ hôm ấy, ông hiểu rằng một tuyến đường không chỉ được làm nên bằng sắt và đá. Nó còn được giữ bằng trách nhiệm của những con người bình thường.

Chiến tranh kéo dài, Mộc tiếp tục làm nhiệm vụ quanh khu vực Ga Yên Lý. Có những đêm mưa ngập lối, có những ngày nắng gắt đến bỏng vai. Nhưng chiếc đèn bão vẫn theo ông. Mặt kính từng bị nứt một đường nhỏ, bà con phải tìm kính khác thay vào. Quai đèn gãy thì người thợ rèn trong làng uốn lại. Nó được chuyền qua tay nhiều người nên ông chưa bao giờ nhận đó là vật của riêng mình.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông Mộc trở về với ruộng đồng. Ông lập gia đình, nuôi các con khôn lớn. Ga Yên Lý dần đổi khác, những chuyến tàu mới đi nhanh hơn, tiếng còi tàu vẫn vang qua làng nhưng không còn làm người dân thấp thỏm như trước.

Mỗi khi nghe tàu chạy, ông thường dừng tay nhìn về phía đường ray. Ông bảo, người đã sống qua chiến tranh không mong con cháu phải hiểu chiến tranh bằng trải nghiệm. Chỉ mong các cháu biết quý một ngày được đến trường bình yên, quý ánh điện sáng trong nhà và quý những chuyến tàu đi qua mà không cần người cầm đèn đứng canh giữa đêm.

Kể xong, ông Mộc lau nhẹ lớp bụi trên mặt kính. Ông không thắp đèn lên. Ngoài sân, ánh điện từ nhà văn hóa xóm đã sáng rõ.

Một đứa trẻ hỏi:

“Răng ông còn giữ chiếc đèn cũ ni?”

Ông nhìn các cháu, cười hiền:

“Để nhớ rằng có những lúc, chỉ một vệt sáng nhỏ thôi cũng đủ giúp người ta tìm thấy đường đi.”

Ngoài kia, tiếng tàu từ phía Ga Yên Lý lại vọng về. Ngọn đèn cũ nằm im trên bàn, nhưng câu chuyện của nó dường như vẫn đang sáng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn