Ngọn đèn dầu trên bàn thờ vọng
Vĩnh Linh những năm tháng ấy là "tọa độ chết", nơi đất đá cũng phải biến thành tro bụi dưới sức công phá của bom đạn Mỹ. Nhà tôi có ba người con trai đều đi bộ đội, và tôi ở lại quê nhà vừa sản xuất vừa tham gia dân quân tự vệ tại địa phương. Mỗi tối, tôi lại thắp một ngọn đèn dầu nhỏ đặt sâu trong góc hầm, vừa để khâu vá áo cho chiến sĩ, vừa để cầu nguyện cho các con. Trong lòng đất ẩm thấp, ngọn lửa vàng vọt ấy là niềm hy vọng duy nhất gắn kết tôi với những đứa con đang ở chiến trường xa xôi. Có những đêm pháo từ bờ Nam sông Hiền Lương rót sang rát mặt, căn hầm rung lên bần bật như muốn sập xuống đầu mấy mẹ con. Tôi vẫn kiên trì giữ cho ngọn lửa không tắt, bởi tôi tin rằng ánh sáng ấy sẽ dẫn lối cho các con tôi tìm đường trở về nhà. Một ngày cuối năm 1971, tôi nhận được hai tờ giấy báo tử gửi về cùng một lúc, trời đất như đổ sụp dưới chân người mẹ già. Tôi không dám khóc to vì sợ ảnh hưởng đến tinh thần của anh em chiến sĩ đang đóng quân trong vườn nhà mình lúc bấy giờ. Tôi lặng lẽ lập một bàn thờ vọng ngay trong hầm, đặt hai bát cơm trắng và ngọn đèn dầu lay lắt để tiễn biệt các con. Cho đến ngày hòa bình, chỉ có đứa út trở về với đôi chân không còn nguyên vẹn, nhưng nụ cười của nó vẫn rạng rỡ như ánh đèn đêm ấy.



