Ngọn Đèn Dầu Trong Lớp Học Đêm
Năm 1966, bà Hoàng Thị Nhung là giáo viên phụ trách lớp xóa mù chữ tại một xã nhỏ của tỉnh Thái Bình. Những ngày ấy, chiến tranh khiến cuộc sống đảo lộn. Ban ngày bà con ra đồng sản xuất, khi có báo động lại xuống hầm trú ẩn. Vì vậy, việc học chỉ có thể tổ chức vào buổi tối.
Lớp học đặt trong gian nhà kho hợp tác xã, vách đất, mái rạ thấp. Bàn ghế là những tấm phản cũ ghép lại, bảng đen làm từ tấm gỗ quét nhọ nồi. Ánh sáng duy nhất là vài ngọn đèn dầu đặt ở các góc phòng.
Học trò của bà không chỉ có trẻ nhỏ mà còn có các bác nông dân, chị phụ nữ, cụ già ngoài năm mươi tuổi. Ban ngày cày cấy mệt nhọc, tối đến họ vẫn cầm bảng con tới lớp. Có người còn bế theo con nhỏ đang ngủ.
Một tối mùa đông, gió lùa hun hút qua khe vách. Đèn dầu chập chờn muốn tắt. Bà Nhung vừa che gió vừa cầm que chỉ lên bảng đánh vần:
“B… a… ba.”
Cả lớp đồng thanh đọc theo, tiếng đọc còn chưa tròn nhưng vang lên đầy quyết tâm.
Có bác nông dân bàn tay chai sần cầm phấn run run mãi mới viết được chữ tên mình. Viết xong, bác nhìn thật lâu rồi cười rạng rỡ:
“Từ nay tôi biết ký tên rồi cô giáo ạ.”
Cả lớp vỗ tay làm ngọn đèn rung nhẹ.
Nhiều đêm đang học thì còi báo động vang lên. Mọi người cầm bảng chạy xuống hầm, chờ yên tiếng máy bay lại trở lên học tiếp. Không ai muốn bỏ dở buổi học.
Sau ngày hòa bình, nhiều học viên của lớp đêm ấy đã biết đọc, biết viết, tham gia công tác xã hội và nuôi con ăn học thành tài.
Bà Nhung thường kể với con cháu rằng:
“Bom đạn có thể làm tối bầu trời, nhưng không thể dập tắt ánh sáng của tri thức. Ngọn đèn dầu nhỏ năm xưa đã soi sáng biết bao ước mơ.”



