Ngọn đèn trong bóng tối Nam Kỳ và tượng đài bất tử về người nghĩa sĩ nông dân
Bài viết tái hiện câu chuyện lịch sử có thật về cụ Nguyễn Đình Chiểu – nhà thơ mù giàu lòng yêu nước của đất Nam Kỳ. Năm 1861, dù đôi mắt không còn nhìn thấy ánh sáng, ông vẫn đứng về phía nhân dân, dùng ngòi bút đay nghiến kẻ thù thực dân và chép nên bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc", lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc tạc nên tượng đài tráng lệ về người nông dân áo vải xông pha đánh giặc cứu nước.
Trong dòng chảy lịch sử quật cường của dân tộc Việt Nam, nửa cuối thế kỷ XIX là một trong những trang sử đau thương nhưng vô cùng oanh liệt. Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, đặt gông cồng lên dải đất Nam Kỳ, biết bao trí thức và người dân lành đã đứng lên chống lại ách đô hộ. Trong số những sĩ phu yêu nước kiệt xuất của thời kỳ ấy, danh nhân Nguyễn Đình Chiểu (thường gọi là Cụ Đồ Chiểu) nổi bật như một biểu tượng sáng ngời cho khí tiết trung trinh, lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần bất khuất. Dù bị mù cả hai mắt và chịu nhiều bất hạnh gia đình, ông không chỉ dùng y thuật để chữa bệnh cứu người mà còn biến ngòi bút thành vũ khí sắc bén. Đóng góp to lớn của Nguyễn Đình Chiểu cho lịch sử đất nước không chỉ nằm ở tập truyện thơ Nôm kinh điển "Lục Vân Tiên" giáo dục đạo lý làm người, mà đặc biệt quan trọng: ông chính là người đầu tiên trong lịch sử văn học - lịch sử dân tộc dùng văn chương để tạc nên tượng đài bất tử về người nông dân nghĩa sĩ, cổ vũ ngọn lửa kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam Kỳ.
Nguyễn Đình Chiểu sinh năm 1822 tại làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Đời ông gặp vô vàn biến cố: khi đang chuẩn bị thi Hội thì nhận tin mẹ mất, ông khóc thương đến nỗi mù cả hai mắt. Vượt lên số phận nghiệt ngã, ông mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh và sáng tác văn chương. Đến khi thực dân Pháp đánh chiếm Gia Định rồi mở rộng đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, cụ Đồ Chiểu đã kiên quyết từ chối mọi sự dụ dỗ, mua chuộc của kẻ thù, chọn sống gắn bó máu thịt với nhân dân.
Một câu chuyện lịch sử có thật đầy bi hùng về ông đã diễn ra vào đêm ngày 16 tháng 12 năm 1861. Thời điểm đó, phong trào kháng chiến của nhân dân Nam Kỳ bùng lên khắp nơi dưới sự lãnh đạo của các thủ lĩnh nghĩa quân như Trương Định. Tại vùng đất Cần Giuộc (nay thuộc tỉnh Long An), hàng trăm người nông dân áo vải – những người vốn chỉ quen tay cày, tay bừa – đã tự nguyện đứng vào hàng ngũ nghĩa quân. Trong trận tập kích đồn Cần Giuộc đêm ấy, chỉ với ngọn tầm vông vót nhọn, lưỡi dao phay và chiếc áo vải thô, các nghĩa sĩ đã dũng cảm đánh thẳng vào đồn địch, diệt nhiều lính Pháp và tay sai trước khi anh dũng hy sinh.
Khi tin tức về trận đánh Cần Giuộc và sự hy sinh kiên cường của các nghĩa quân loan đến vùng Tân An, Cụ Đồ Chiểu – bấy giờ đang tản cư tại đây – đã xúc động đến nghẹn ngào. Mắt không nhìn thấy ánh sáng, nhưng trái tim yêu nước cuồn cuộn của ông nhìn thấy rõ mùng mọt tinh thần xả thân vì nước của đồng bào. Theo yêu cầu của Đỗ Quang (Kinh lược sứ Nam Kỳ thời bấy giờ), Cụ Đồ Chiểu đã dốc trọn nước mắt và tâm huyết để chép nên bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc".
Bài văn tế được đọc lên trong lễ truy điệu các nghĩa sĩ Cần Giuộc năm 1861 đã làm chấn động cả dải đất Nam Kỳ. Lần đầu tiên trong lịch sử, hình ảnh người nông dân nghèo khó không còn là những thân phận bị áp bức, mà xuất hiện rực rỡ như những anh hùng dân tộc: "Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp binh đao.../ Bát cơm truy điệu dẫu dạt dào, nước mắt khóc người xưa không xiết...". Lời văn tế bi tráng của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ xoa dịu nỗi đau của các gia đình có người thân ngã xuống, mà quan trọng hơn, nó đã thổi bùng ngọn lửa căm thù giặc, tiếp thêm ý chí chiến đấu sắt đá cho quân dân Nam Kỳ tiếp tục kiên cường chống lại ách xâm lược của thực dân Pháp.
Câu chuyện lịch sử có thật về Cụ Đồ Chiểu và sự ra đời của "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" năm 1861 để lại những bài học vô giá và sâu sắc cho thế hệ hôm nay.
Ý nghĩa cao đẹp nhất trong hành động của Cụ Đồ Chiểu chính là bài học về khí tiết sĩ phu, lòng dấn thân và trách nhiệm của người trí thức trước vận mệnh dân tộc. Nguyễn Đình Chiểu đã chứng minh rằng: Dù trong hoàn cảnh tăm tối hay tàn tật về thể xác, người trí thức chân chính vẫn có thể đóng góp to lớn cho đất nước nếu giữ trọn tấm lòng trung trinh với nhân dân. Ông đã dùng ngòi bút làm kiếm sắc, đập tan những luận điệu xảo trá của kẻ thù và tôn vinh những giá trị cao đẹp của người lao động. Bài học ấy nhắc nhở thế hệ trẻ ngày nay phải biết rèn luyện bản lĩnh, sống có lý tưởng, luôn biết yêu thương và cống hiến vì sự phát triển chung của quê hương.
Bên cạnh đó, câu chuyện còn là minh chứng cho sức mạnh bất tử của văn chương yêu nước. Nghệ thuật khi cất lên từ nỗi đau và khát vọng của nhân dân sẽ trở thành thứ vũ khí tinh thần có sức lay động triệu trái tim.
Thời gian trôi qua hơn một thế kỷ, dải đất Cần Giuộc và Nam Kỳ năm xưa nay đã trở thành những vùng đất giàu đẹp, thanh bình và phát triển. Dù Cụ Đồ Chiểu đã vĩnh viễn đi vào lịch sử, nhưng ngọn lửa yêu nước cùng bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" ra đời năm 1861 vẫn mãi tỏa sáng trong trang sử vàng dân tộc. Tấm gương trọn đời vì dân vì nước của ông sẽ luôn là ngọn đuốc soi đường, nhắc nhở thế hệ hôm nay phải luôn biết trân trọng giá trị của độc lập, tự do, đồng thời nỗ lực học tập, lao động để dựng xây một đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh và văn minh.



