Bài viết

Ngọn đèn trong căn hầm số 3

Ở vùng ven sông Thạch Hãn những năm 1971–1972, có một căn hầm nhỏ mà lính công binh gọi vui là “hầm số 3”, nằm lọt thỏm giữa hai dãy tre già. Căn hầm chỉ rộng chừng ba mét vuông, đủ kê một chiếc bàn gỗ ọp ẹp và đặt vài bộ đàm, nhưng lại là nơi giữ nhịp sống của cả tuyến đường nối vào Thành cổ. Người phụ trách căn hầm ấy là chị Nguyễn Thị Hòa, một nữ giao liên – y tá mới 19 tuổi. Hòa nhỏ nhắn, ít nói, nhưng ai cũng biết chị có một thói quen không bao giờ bỏ: mỗi đêm, dù bom đạn có trùm xuống, chị

Quảng Trị09/12/2025Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ở vùng ven sông Thạch Hãn những năm 1971–1972, có một căn hầm nhỏ mà lính công binh gọi vui là “hầm số 3”, nằm lọt thỏm giữa hai dãy tre già. Căn hầm chỉ rộng chừng ba mét vuông, đủ kê một chiếc bàn gỗ ọp ẹp và đặt vài bộ đàm, nhưng lại là nơi giữ nhịp sống của cả tuyến đường nối vào Thành cổ. Người phụ trách căn hầm ấy là chị Nguyễn Thị Hòa, một nữ giao liên – y tá mới 19 tuổi. Hòa nhỏ nhắn, ít nói, nhưng ai cũng biết chị có một thói quen không bao giờ bỏ: mỗi đêm, dù bom đạn có trùm xuống, chị vẫn thắp một ngọn đèn dầu trong góc hầm. Chị bảo: “Để khi thương binh được đưa xuống đây, dù có đau đến mấy, họ vẫn thấy ánh sáng mà yên lòng”.

Những ngày mùa hè đỏ lửa 1972, căn hầm số 3 gần như hoạt động suốt ngày đêm. Có hôm, chỉ trong vài giờ, Hòa đã đỡ cho hơn mười chiến sĩ bị thương, băng bó, cầm máu, pha nước muối, ghi tên từng người để chuyển ra tuyến sau. Người sống đi tiếp, người không qua khỏi được chị khâm liệm bằng tấm tăng cũ, gấp nếp thật ngay ngắn. Đôi tay chưa một lần biết trang điểm hay cầm kim chỉ vá áo cưới giờ quen với mùi thuốc đỏ, máu, khói bom và tiếng rên xen lẫn tiếng pháo.

Một buổi chiều tháng 7, khi pháo từ bờ nam bắn dồn dập sang, một tốp chiến sĩ bị thương nặng được đưa về hầm. Trong đó có một cậu lính trẻ tên Trung, quê ở Hà Tĩnh, miệng lắp bắp gọi: “Chị ơi… đừng để em ngủ…”. Hòa biết nếu để Trung mê đi sẽ khó qua khỏi, chị liền ngồi sát bên, kể cho cậu nghe những câu chuyện rất đời thường: chuyện chị từng chăn bò, chuyện con mèo mướp ở quê thích rúc vào bếp, chuyện mẹ chị hay gói cơm nếp mang ra đồng. Trung nghe mà đôi lúc bật cười, dù mỗi lần cười ngực lại đau đến tím mặt. Suốt ba tiếng đồng hồ, Hòa không rời tay khỏi vai cậu, vừa bóp nhẹ để giữ tỉnh, vừa lau máu trên người cậu bằng mảnh khăn đã sờn.

Khi pháo tạm ngớt, trung đội công binh đến đưa thương binh đi, Hòa gói cho Trung một mảnh khăn khác: “Em cầm lấy. Khi nào về quê nhớ mang cho mẹ, bảo là của một người chị ở căn hầm số 3 gửi tặng”. Cậu lính trẻ được cứu sống và rời trận địa. Nhưng ít ai biết rằng khi đoàn cáng đi khuất, Hòa mới gục xuống, lộ ra vết thương ở chân do một mảnh pháo sượt qua từ nhiều giờ trước. Chị vẫn cố giấu tất cả chỉ để không ai bị chậm trễ.

Cuối năm ấy, khi Thành cổ giải phóng, căn hầm số 3 chỉ còn lại vài thanh gỗ cháy xém và chiếc đèn dầu đã cạn nhẵn. Nhưng mỗi khi nhắc lại câu chuyện, đồng đội Hòa vẫn nói rằng ngọn đèn ấy chưa bao giờ tắt — bởi nó là biểu tượng của lòng nhân hậu, sự kiên cường và đức hy sinh lặng lẽ của những người trẻ thời hoa lửa, những người đã đi qua chiến tranh bằng ánh sáng rất nhỏ nhưng đủ soi ấm biết bao cuộc đời.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Ngọn đèn trong căn hầm số 3 | Câu chuyện thời hoa lửa