Bài viết

NGỌN ĐÈN TRONG HẦM CHỮ A

Những ngày tháng chiến tranh đã lùi xa nhưng trong ký ức của bà tôi, tiếng máy bay gầm rú, tiếng còi báo động và ánh đèn dầu leo lét trong căn hầm chữ A vẫn chưa bao giờ phai nhạt. Mỗi lần kể chuyện, đôi mắt bà lại xa xăm như đang sống lại những năm tháng “thời hoa lửa” đầy gian khó nhưng cũng vô cùng hào hùng.

Lào Cai14/05/2026Đoàn Thị Trang (Trường Th&THCS Mồ Dề)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGỌN ĐÈN TRONG HẦM CHỮ A

Những ngày tháng chiến tranh đã lùi xa nhưng trong ký ức của bà tôi, tiếng máy bay gầm rú, tiếng còi báo động và ánh đèn dầu leo lét trong căn hầm chữ A vẫn chưa bao giờ phai nhạt. Mỗi lần kể chuyện, đôi mắt bà lại xa xăm như đang sống lại những năm tháng “thời hoa lửa” đầy gian khó nhưng cũng vô cùng hào hùng.

Bà tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo miền Bắc. Năm ấy, bà mới mười bảy tuổi thì chiến tranh leo thang ác liệt. Những cánh đồng đang mùa lúa chín bỗng trở thành nơi hứng chịu bom đạn. Ban ngày, người dân vẫn ra đồng sản xuất, tối đến lại đào hầm, đắp ụ, chuẩn bị cho những trận ném bom bất ngờ.

Bà kể rằng thời ấy ai cũng sống trong tinh thần “tất cả vì tiền tuyến”. Thanh niên trai tráng lên đường nhập ngũ. Phụ nữ vừa làm ruộng, vừa tham gia dân quân tự vệ. Có những đêm mưa rét căm căm, bà cùng các cô bác trong xóm thay nhau trực gác ở đầu làng để báo động khi có máy bay địch.

Một buổi chiều cuối năm 1972, khi bà đang cùng mẹ gánh lúa ngoài đồng thì tiếng còi hụ vang lên dồn dập. Mọi người vội vàng bỏ lại công việc, chạy về hầm trú ẩn. Từ phía xa, từng tốp máy bay lao đến, tiếng bom nổ rung chuyển cả mặt đất.

Khi trận bom vừa dứt, bà và mọi người chạy lên thì thấy ngôi nhà của gia đình chỉ còn lại một đống đổ nát. Những hàng tre bị bom quật gãy, mái rạ cháy âm ỉ. Nhưng điều khiến bà nhớ mãi là hình ảnh ông ngoại tôi lúc ấy vẫn bình tĩnh động viên cả nhà:

– Nhà mất thì dựng lại được. Quan trọng là người còn sống.

Ngay hôm sau, cả làng cùng nhau dựng lại nhà cho những gia đình bị bom đánh sập. Người góp tre, người góp tranh, người góp công. Chỉ trong vài ngày, những mái nhà mới lại mọc lên giữa bãi đất cháy đen.

Trong ký ức của bà, chiến tranh tuy khốc liệt nhưng tình người lại vô cùng ấm áp. Bà kể rằng hồi ấy cả làng sống như một gia đình lớn. Nhà ai có khoai thì chia khoai, có gạo thì san gạo. Có lần mất mùa, mỗi người chỉ được ăn vài củ sắn luộc thay cơm nhưng chẳng ai than phiền.

Năm 1973, bà tham gia đội thanh niên xung phong làm nhiệm vụ tải đạn và san lấp hố bom. Công việc vô cùng nguy hiểm vì máy bay địch thường xuyên quay lại đánh phá. Có những đêm, cả đội phải làm việc dưới ánh trăng mờ, vừa làm vừa nghe tiếng máy bay vọng lại từ xa.

Bà nhớ nhất người bạn thân tên Hạnh. Hạnh bằng tuổi bà, dáng người nhỏ bé nhưng rất gan dạ. Mỗi lần có nhiệm vụ khó, Hạnh luôn xung phong đi đầu. Một đêm mưa lớn, cả đội nhận lệnh sửa đường để xe chở hàng kịp ra tiền tuyến. Mọi người đang xúc đất thì bất ngờ máy bay xuất hiện.

Tiếng bom nổ chát chúa khiến đất đá tung mù mịt. Khi khói bụi tan đi, bà mới biết Hạnh đã bị thương nặng vì lao ra cứu một em nhỏ đi lạc gần khu vực nguy hiểm.

Trước lúc được đưa đi cấp cứu, Hạnh vẫn nắm tay bà cười:

– Đường phải thông trước sáng nhé!

Câu nói ấy theo bà suốt cả cuộc đời.

Sau chiến tranh, Hạnh không còn nữa. Nhưng mỗi lần nhắc đến bạn, bà luôn tự hào vì đã có một thế hệ thanh niên sống dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc.

Bà kể rằng những năm tháng ấy tuy thiếu thốn nhưng ai cũng tràn đầy niềm tin. Những lá thư từ chiến trường trở thành niềm mong đợi lớn nhất của mỗi gia đình. Cả làng thường quây quần nghe đọc thư của các anh bộ đội gửi về. Có người vui mừng khi nhận được tin con trai lập chiến công. Có người lặng lẽ khóc khi nghe tin người thân hy sinh.

Ông tôi khi ấy cũng đang chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Mỗi lần nhận thư của ông, bà đều đọc đi đọc lại nhiều lần đến mức thuộc lòng từng chữ. Trong thư, ông chỉ kể chuyện đơn vị khỏe mạnh, động viên gia đình yên tâm sản xuất chứ không bao giờ nói về gian khổ nơi chiến trường.

Ngày đất nước thống nhất, cả làng như vỡ òa trong niềm vui. Người dân kéo nhau ra sân đình nghe tin chiến thắng qua chiếc loa phát thanh cũ kỹ. Bà bảo chưa bao giờ thấy mọi người cười nhiều đến thế. Có người vừa cười vừa khóc.

Ông tôi trở về sau nhiều năm xa cách với chiếc ba lô bạc màu và đôi dép cao su đã mòn vẹt. Ngày gặp lại, bà chỉ biết đứng lặng đi vì xúc động. Hòa bình đến rồi nhưng những ký ức chiến tranh vẫn còn in đậm trong mỗi con người.

Bây giờ, mỗi lần nhìn thấy cuộc sống yên bình, bà lại nhắc con cháu phải biết trân trọng những hy sinh của cha ông đi trước. Bà thường nói:

– Các con sinh ra trong hòa bình là may mắn lắm. Phải sống sao cho xứng đáng.

Câu chuyện của bà giúp tôi hiểu rằng “thời hoa lửa” không chỉ là những năm tháng bom đạn đau thương mà còn là thời kỳ sáng ngời lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường của dân tộc Việt Nam.

Những con người bình dị như bà tôi, như cô Hạnh hay biết bao người dân năm ấy đã góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang cho đất nước. Họ sống giản dị nhưng vô cùng cao đẹp. Chính những hy sinh thầm lặng ấy đã giúp thế hệ hôm nay được học tập, vui chơi trong hòa bình.

Mỗi lần nghe bà kể chuyện, tôi càng thêm yêu quê hương và tự nhủ phải cố gắng học tập thật tốt để tiếp nối truyền thống của cha ông. Những câu chuyện “thời hoa lửa” sẽ mãi là ngọn lửa thắp sáng lòng yêu nước trong trái tim các thế hệ mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn