Khác

Ngọn đuốc Cần Vương giữa ngàn sương Tây Bắc và khí tiết của vị Tuần phủ kiên trung

Bài viết tái hiện câu chuyện lịch sử có thật về Nguyễn Quang Bích (Ngô Quang Bích) – vị quan tuần phủ kiên trung của triều đình nhà Nguyễn. Năm 1885, trước họa mất nước và sự hàng phục của triều đình, ông đã kiên quyết từ bỏ quan trường, gác lại sự an toàn cá nhân để rút lên vùng núi rừng Tây Bắc khốc liệt, lãnh đạo đồng bào Kinh, H'Mông, Thái dựng căn cứ kháng Pháp, để lại những vần thơ rực lửa về khí tiết bất khuất của sĩ phu yêu nước.

Hưng Yên22/10/2026Đoàn phường Tân Thuận (Phường Tân Thuận)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dải đất lịch sử quật cường của dân tộc Việt Nam, nửa cuối thế kỷ XIX là một thời kỳ đầy đau thương nhưng vô cùng oanh liệt. Khi thực dân Pháp từng bước xâm lược và đặt ách đô hộ lên đất nước ta, trước sự nhu nhược hàng phục của triều đình Huế, nhiều sĩ phu, quan lại yêu nước đã dũng cảm gạt qua danh lợi, đứng về phía nhân dân để phất cờ khởi nghĩa. Trong số những thủ lĩnh kiệt xuất của Phong trào Cần Vương, Nguyễn Quang Bích (hiệu Ngô Quang Bích, tự Hàm徽) nổi bật như một biểu tượng tráng lệ cho chí khí quật cường và tinh thần xả thân vì Tổ quốc. Sự đóng góp to lớn của Nguyễn Quang Bích cho lịch sử đất nước không chỉ nằm ở vai trò một nhà văn, nhà thơ lớn với những tác phẩm chan chứa lòng yêu nước như "Thập niên tù hận", "Ngô Bộc Hiệp thi tập", mà đặc biệt quan trọng: ông chính là linh hồn của cuộc kháng chiến chống Pháp ở vùng chiến lược Tây Bắc, người đã quy tụ đồng bào các dân tộc thiểu số cùng người Kinh đứng lên đánh giặc, tạc nên một tượng đài bất tử về khí tiết kiên trung của trí thức Việt Nam trước vận mệnh sinh tử của dân tộc.

Nguyễn Quang Bích sinh năm 1832 tại làng Trình Phố, huyện Trực Định (nay thuộc xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình). Tốt nghiệp Hoàng giáp năm 1869, ông trải qua nhiều chức vụ quan trọng như Chánh sứ Sơn Tây, Tuần phủ Hưng Hóa. Là một vị quan thanh liêm, chính trực, ông luôn chăm lo cho đời sống của nhân dân và kiên quyết đấu tranh chống lại ách xâm lược của thực dân Pháp.

Một câu chuyện lịch sử có thật đầy bi hùng về ông đã diễn ra vào mùa hè năm 1885. Sau sự kiện kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi rút lên chiến khu Quảng Trị ban Dụ Cần Vương, kêu gọi sĩ phu và nhân dân cả nước đứng lên giúp vua cứu nước. Nhận được Dụ Cần Vương, Nguyễn Quang Bích lúc bấy giờ đang đảm nhiệm chức vụ Hiệp lý Bắc Kỳ quân vụ kiêm Tuần phủ Hưng Hóa. Giữa lúc nhiều quan lại dao động, ra hàng hoặc cầu an, Nguyễn Quang Bích đã đưa ra một lựa chọn lịch sử dứt khoát: kiên quyết không đầu hàng giặc.

Năm 1885, ông cùng các tướng lĩnh trung thành rút quân lên vùng núi rừng Tây Bắc hiểm trở, chọn Nghĩa Lộ (nay thuộc tỉnh Yên Bái) và Tiên Lương làm căn cứ chiến lược. Tại ngàn sương Tây Bắc năm 1885, cuộc sống kháng chiến gặp vô vàn gian khổ. Lực lượng của ta thiếu hụt vũ khí, lương thực cạn kiệt, lại phải chịu đựng khí hậu khắc nghiệt và dịch bệnh sốt rét rừng tàn phá. Thế nhưng, Nguyễn Quang Bích không bao giờ sờn lòng. Ông cùng ăn, cùng ở, cùng đào hầm, xẻ gỗ làm căn cứ với đồng bào các dân tộc H'Mông, Thái, Dao, Muờng. Với uy tín và lòng nhân ái bao la, ông đã thắt chặt khối đại đoàn kết các dân tộc vùng cao, biến dải đất Tây Bắc thành một pháo đài kháng Pháp kiên cố khiến kẻ thù phải khiếp sợ.

Khi thực dân Pháp nhiều lần gửi thư dụ dỗ, hứa hẹn trả lại chức vị Tuần phủ và ban thưởng vô số vàng bạc nếu ông chịu hạ súng, Nguyễn Quang Bích đã thẳng thắn khước từ. Đêm đêm, dưới ánh đèn dầu thắp trong lòng hầm căn cứ Nghĩa Lộ ngột ngạt sương muối năm 1885, ông cặm cụi đặt bút viết nên những câu thơ tuyệt mệnh đầy khí tiết: "Thất thủ thâm thù vị báo thù / Bách niên đao cự chỉ cam tù..." (Thù sâu chưa trả được / Thà chịu chết chứ không chịu làm tù binh). Ngòi bút của ông không chỉ đay nghiến sự xảo trá của kẻ thù mà còn thắp sáng ngọn lửa yêu nước trong lòng hàng vạn nghĩa quân và nhân dân vùng cao. Ông kiên cường lãnh đạo phong trào đấu tranh cho đến hơi thở cuối cùng, hy sinh ngay tại chiến khu năm 1890.

Câu chuyện lịch sử có thật về Hiệp lý Quân vụ Nguyễn Quang Bích và hành trình lên chiến khu Tây Bắc năm 1885 để lại những bài học vô giá và sâu sắc cho thế hệ hôm nay.

Ý nghĩa cao đẹp nhất trong hành động của Nguyễn Quang Bích chính là bài học về khí tiết trung trinh, lòng dấn thân và tinh thần thà chết đục còn hơn sống trong. Nguyễn Quang Bích đã chứng minh rằng: Giá trị lớn nhất của một người trí thức, một vị quan là khi họ biết đặt danh dự của bản thân và vận mệnh của Tổ quốc lên trên hết. Ông đã không ngần ngại từ bỏ cuộc sống an nhàn giàu sang để lao vào nơi gian khổ, hiểm nguy nhất vì độc lập của dân tộc. Bài học ấy nhắc nhở thế hệ trẻ ngày nay phải biết rèn luyện bản lĩnh, sống có lý tưởng, không sa ngã trước những cám dỗ vật chất và luôn giữ vững tự trọng, lòng yêu nước.

Bên cạnh đó, câu chuyện còn là minh chứng cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự gắn kết máu thịt giữa người sĩ phu yêu nước và đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Bắc năm xưa chính là cội nguồn giúp phong trào Cần Vương kéo dài và để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử.

Thời gian trôi qua hơn một thế kỷ, dải đất Nghĩa Lộ và vùng núi rừng Tây Bắc năm xưa nay đã trở thành những bản làng thanh bình, giàu đẹp, rực rỡ sắc hoa ban và phát triển. Dù Lãnh tụ phong trào Cần Vương Nguyễn Quang Bích đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ, nhưng khí tiết kiên trung cùng ngọn đuốc Cần Vương ông thắp lên năm 1885 vẫn mãi tỏa sáng trong trang sử vàng dân tộc. Tấm gương xả thân vì nước của ông sẽ luôn là bài học vô giá, nhắc nhở thế hệ hôm nay phải luôn biết trân trọng giá trị của độc lập, tự do, đồng thời nỗ lực học tập, lao động để dựng xây một đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh và văn minh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Ngọn đuốc Cần Vương giữa ngàn sương Tây Bắc và khí tiết của vị Tuần phủ kiên trung | Câu chuyện thời hoa lửa