Bài viết

Ngọn đuốc Hồ Chí Minh – Hành trình ba mươi năm xoay chuyển vận mệnh dân tộc và bài học truyền lửa cho thế hệ hôm nay

17/08/2026Xã Tân Châu (Đoàn xã Tân Châu)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Ngọn đuốc Hồ Chí Minh – Hành trình ba mươi năm xoay chuyển vận mệnh dân tộc và bài học truyền lửa cho thế hệ hôm nay

Hành trình bôn ba tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một thiên anh hùng ca vĩ đại, một cuộc vạn lý trường chinh lịch sử làm thay đổi hoàn toàn tiến trình lịch sử và vận mệnh của toàn thể dân tộc Việt Nam. Đầu thế kỷ XX, đất nước ta chìm trong đêm tối tăm tối của ách đô hộ thực dân Pháp, nhân dân phải chịu cảnh lầm than, tủi nhục dưới gông cùm nô lệ. Trong bối cảnh các phong trào yêu nước tiền bối, từ xu hướng phong kiến của phong trào Cần Vương đến các xu hướng tư sản và tiểu tư sản do cụ Phan Bội Châu hay Phan Châu Trinh khởi xướng, đều lần lượt lâm vào bế tắc và thất bại, lịch sử dân tộc đã đặt ra một đòi hỏi khách quan về một con đường cứu nước mới, khoa học và triệt để hơn. Chính vào giai đoạn khủng hoảng sâu sắc về đường lối ấy, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, với nhãn quan chính trị sắc bén vượt thời đại và lòng yêu nước thương dân nồng nàn, đã đưa ra một quyết định làm thay đổi lịch sử. Người nhận ra rằng không thể dựa vào các nước đế quốc hay phong kiến để giành độc lập, mà phải tự mình đi sâu vào lòng địch, tìm hiểu bản chất của thế giới phương Tây để tìm ra phương kế giải phóng đồng bào.

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, tại Bến cảng Nhà Rồng, với tên gọi Văn Ba, Người đã chấp nhận làm phụ bếp trên con tàu buôn Amiral Latouche-Tréville để bắt đầu chuyến hành trình vượt đại dương [vi.wikipedia.org]. Quyết định dấn thân sang phương Tây — nơi khởi nguồn của những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái nhưng cũng là sào huyệt của chủ nghĩa thực dân — mang một mục tiêu vô cùng rõ ràng và thực tiễn: xem các nước độc lập phát triển ra sao, tìm hiểu bản chất của nền văn minh phương Tây để rồi trở về giúp đỡ đồng bào mình đập tan xiềng xích. Chuyến đi ấy đã mở đầu cho một hành trình kéo dài suốt ba mươi năm, đưa Người qua 3 đại dương, 4 châu lục với gần 30 quốc gia khác nhau trên thế giới. Trong suốt sáu năm đầu tiên từ năm 1911 đến năm 1917, Người đã hòa mình vào cuộc sống lao động cực nhọc cùng những người công nhân, thủy thủ và dân nghèo tại khắp các hải cảng, nhà máy từ Pháp, Anh, Mỹ cho đến các nước thuộc địa ở châu Phi. Qua quá trình khảo sát thực tiễn vô cùng gian khổ đó, Người đã rút ra một chân lý mang tính bản chất của thời đại: ở đâu bọn đế quốc thực dân cũng tàn bạo, độc ác; và ở đâu những người lao động nghèo khổ cũng là nạn nhân bị áp bức, họ chính là bạn bè, là đồng chí của nhau trong cuộc đấu tranh chung.

Bước ngoặt tư tưởng vĩ đại và mang tính quyết định của Nguyễn Ái Quốc diễn ra tại thủ đô Paris nước Pháp vào giai đoạn từ năm 1917 đến năm 1920. Sau khi gửi Bản yêu sách của nhân dân An Nam đến Hội nghị Versailles vào tháng 6 năm 1919 để đòi các quyền tự do, dân chủ cơ bản cho dân tộc, Người nhận ra bản chất giả dối của các cường quốc tư sản. Bước ngoặt lớn nhất xuất hiện vào tháng 7 năm 1920, khi Người được đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin đăng trên báo Nhân đạo. Luận cương đã giải đáp hoàn toàn những trăn trở bấy lâu của Người, chỉ ra mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Trong niềm xúc động nghẹn ngào, Người đã thốt lên giữa căn phòng nhỏ: "Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!". Tư tưởng ấy đã dẫn đến hành động lịch sử vào tháng 12 năm 1920 tại Đại hội Tour, khi Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đánh dấu sự chuyển biến nhảy vọt từ một người yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản lỗi lạc .

Từ thời điểm tìm thấy ánh sáng cứu nước, Nguyễn Ái Quốc không ngừng hoạt động lý luận và thực tiễn để chuẩn bị mọi điều kiện cho việc thành lập một chính đảng vô sản tại Việt Nam. Người tích cực viết bài, xuất bản báo chí, thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa tại Pháp và sau đó sang Liên Xô để nghiên cứu sâu hơn về mô hình nhà nước xô viết. Đến năm 1925, khi hoạt động tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, mở các lớp huấn luyện chính trị để đào tạo nên những hạt giống đỏ đầu tiên cho cách mạng nước nhà. Những bài giảng của Người được tập hợp thành tác phẩm Đường Kách mệnh, trở thành cuốn cẩm nang gối đầu giường của các chiến sĩ yêu nước. Sự truyền bá tích cực của chủ nghĩa Mác-Lênin đã thúc đẩy phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ, dẫn đến sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam vào năm 1929. Nhận thấy nguy cơ chia rẽ, từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc), thành lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam . Sự kiện lịch sử này đã chấm dứt hoàn toàn cuộc khủng hoảng kéo dài hàng thập kỷ về đường lối lãnh đạo và tổ chức của cách mạng Việt Nam.

Sau ba mươi năm bôn ba khắp năm châu bốn biển, ngày 28 tháng 1 năm 1941, Người đã vượt qua cột mốc 108 tại biên giới Việt - Trung để trở về đất mẹ Cao Bằng. Giây phút Người đặt chân lên mảnh đất quê hương sau bao năm xa cách là một khoảnh khắc thiêng liêng, mở ra chương cuối cùng nhưng oanh liệt nhất của hành trình tìm đường cứu nước. Tại lán Khuổi Nậm, Người đã chủ trì Hội nghị Trung ương 8, quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, thành lập Mặt trận Việt Minh và trực tiếp xây dựng lực lượng vũ trang. Ngọn lửa cách mạng được Người nhóm lên từ hang Pác Bó đã nhanh chóng lan tỏa thành làn sóng mạnh mẽ khắp cả nước, lãnh đạo toàn thể nhân dân ta vùng lên thực hiện cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công vang dội, đập tan ách thống trị của thực dân, phát xít và phong kiến, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa — nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một bài học lịch sử sâu sắc về tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo và tinh thần dấn thân vì đại nghĩa, mà bản thân hành trình ấy chính là minh chứng rõ nét nhất cho một biểu tượng "Truyền Lửa" vĩ đại xuyên thế kỷ. Người đã thắp lên ngọn lửa của niềm tin vào sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, ngọn lửa của ý chí tự lực tự cường và khát vọng độc lập cháy bỏng trong lòng mỗi người dân Việt Nam lầm than lúc bấy giờ. Gửi gắm toàn bộ câu chuyện lịch sử hào hùng này đến với Hoa Truyền Lửa, bài viết mong muốn khơi dậy niềm tự hào và ý thức trách nhiệm sâu sắc trong lòng thế hệ trẻ hôm nay. Được sống trong một đất nước hòa bình, độc lập và đổi mới, tuổi trẻ Việt Nam cần biết trân trọng và biết ơn sâu sắc công lao trời biển của thế hệ cha anh, từ đó biến nhận thức thành hành động cụ thể. Mỗi người trẻ hãy là một ngọn lửa nhỏ, tiếp tục kế thừa, giữ vững và lan tỏa ngọn lửa nhiệt huyết, ra sức học tập, rèn luyện đạo đức, sáng tạo trong lao động để cùng nhau chung tay gánh vác sứ mệnh xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp, văn minh, vững bước sánh vai với các cường quốc năm châu như sinh thời Bác kính yêu hằng mong ước.


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn