NGỌN ĐUỐC RỪNG ĐẠI NGÀN N'TRANG LƠNG
Đầu thế kỷ XX, ngàn xanh Tây Nguyên chìm trong bóng đen của ách thống trị thực dân. Quân Pháp kéo lên chiếm đóng cao nguyên Đắk Nông, dựng đồn bốt, xua quân càn quét các buôn làng M'Nông, Êđê, S'Tiêng. Chúng bắt dân bản đi phu làm đường, bắt phu mỏ, cưỡng đoạt vạt nương, cướp đoạt từng gùi gạo, con heo và bít chặt các lối đi rừng. Tiếng súng pháo và roi vọt của kẻ xâm lược làm rung chuyển núi rừng, gieo rắc đau thương và hận thù khắp đại ngàn.
Nhưng đại ngàn Tây Nguyên là nơi nuôi dưỡng những con người tự do. Giữa lúc buôn làng bị chày đạp, một tù trưởng người M'Nông có đôi mắt sáng quắc như đại bàng, vóc dáng rắn rỏi như cây kơ-nia cổ thụ đã đứng lên: N'Trang Lơng.
N'Trang Lơng không chịu cúi đầu làm nô lệ. Ông đi qua từng buôn làng, đốt lên những đống lửa lớn giữa nhà rông, cất giọng nói vang như tiếng cồng chiêng: – "Đất này là của tổ tiên ta, rừng này là nơi nuôi sống con cháu ta! Rượu cần ta uống không thể trộn lẫn máu tươi của dân bản. Ta phải nắm chặt tay nhau, vót chông, giặt nỏ để đuổi kẻ giặc ra khỏi đại ngàn!"
Lời kêu gọi của N'Trang Lơng như ngọn đuốc châm vào đồng cỏ khô. Đồng bào M'Nông, Êđê, S'Tiêng từ khắp các thung lũng, ngọn núi đã cùng nắm tay nhau kết liên minh.
Không có súng đạn hiện đại như quân Pháp, N'Trang Lơng đã biến chính đại ngàn Đắk Nông thành pháo đài chiến tranh nhân dân độc đáo. Ông hướng dẫn dân bản dùng vũ khí của rừng: vót hàng vạn chông tre ngâm chất độc lá rừng, làm các bẫy đá lăn trên các sườn dốc hiểm trở, và chế tạo những cây cung nỏ bắn tên độc "một phát chết người". Bất kỳ con đường mòn, khe suối nào quân Pháp đi qua cũng đều trở thành cạm bẫy sinh tử.
Trận đánh lẫy lừng nhất, ghi dấu ấn chói lọi trong lịch sử phong trào chống Pháp của đồng bào Tây Nguyên, chính là trận tập kích đồn Henri năm 1914.
Đồn Henri (tại khu vực Bu Bông, Đắk Nông) là sào huyệt khống chế sừng sỏ nhất của giặc Pháp trong vùng, do tên chỉ hủy Henri ngạo mạn cầm đầu. Biết quân Pháp có súng đạn mạnh và công sự kiên cố, N'Trang Lơng không dùng sức đánh trực diện. Ông mưu trí bày ra một thế trận "điệu hổ ly sơn".
Sáng ngày 29 tháng 7 năm 1914, N'Trang Lơng giả vờ quy thuận, gửi lễ vật và mời Henri cùng lực lượng lính Pháp đến dự lễ ăn thề hòa giải tại buôn làng. Tên chỉ huy Henri vốn chủ quan, nghĩ rằng người dân bản địa đã sợ hãi phục tùng, liền mang theo một toán lính tinh nhuệ đến tham dự.
Giữa khoảng sân nhà rông rộn rã tiếng cồng chiêng, khi kẻ thù đang mải mê uống rượu cần và lơ đễnh cảnh giác, N'Trang Lơng bất ngờ vút dao rừng, phát hiệu lệnh tấn công.
– "Diệt giặc! Bảo vệ buôn làng!" – Tiếng hô gầm vang núi rừng.
Từ khắp các ngả rặng cây quanh nhà rông, nghĩa quân M'Nông như những con hùm xám lao ra. Bằng giáo mác, cung nỏ và sự dũng cảm phi thường, N'Trang Lơng cùng các chiến sĩ nghĩa quân đã tiêu diệt gọn tên chỉ huy Henri cùng toàn bộ toán lính Pháp ngay tại chỗ.
Ngay sau đó, N meTrang Lơng thừa thắng xông lên, thừa lúc đồn Henri đang hoang loạn, ông chỉ huy nghĩa quân phóng hỏa, đập tan hoàn toàn pháo đài sừng sỏ này, thu toàn bộ súng đạn, giải phóng một vùng rộng lớn cho đồng bào Tây Nguyên.
Khởi nghĩa N'Trang Lơng tiếp tục lan rộng và kéo dài suốt hơn 20 năm (1912 – 1935), làm hao tổn biết bao sinh lực của thực dân Pháp, khiến kẻ thù mỗi khi nghe đến tên ông và đại ngàn Đắk Nông đều phải khiếp sợ.
Hơn một thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày ngọn lửa khởi nghĩa N'Trang Lơng bùng cháy. Vùng đất Đắk Nông hôm nay đã khoác lên mình màu áo mới: những đồi cà phê, bạt ngàn cao su xanh mút mắt, những con đường nhựa thênh thang nối liền các buôn làng giàu đẹp.
Nhưng tượng đài N'Trang Lơng sừng sững trên đỉnh đèo Gia Nghĩa vẫn mãi là biểu tượng bất tử cho tinh thần yêu tự do, lòng quật cường và sức mạnh đoàn kết của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.
Ngọn đuốc N'Trang Lơng năm xưa không bao giờ tắt. Nó đã hòa vào ngọn lửa cách mạng của dân tộc, thắp sáng lòng tự hào, nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau luôn kiên cường giữ vững từng ngọn núi, từng dòng sông, tiếp bước cha anh xây dựng Tây Nguyên mãi mãi giàu đẹp và vững bền.



