Anh hùng Lực lượng vũ trang

Ngọn Đuốc Sống Khai Mở Đường Máu Tại Cứ Điểm Đông Khê (Nhân chứng lịch sử: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân La Văn Cầu)

Trong lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam, Chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950 mang một ý nghĩa bản lề, đánh dấu sự chuyển mình từ thế phòng ngự sang thế tiến công của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và trong trang sử chói lọi ấy, cái tên La Văn Cầu đã trở thành một biểu tượng bất diệt cho lòng quả cảm, tinh thần hy sinh quên mình vì độc lập tự do của Tổ quốc. Câu chuyện về nhát chém đứt lìa cánh tay để tiếp tục chiến đấu của ông không phải là một huyền thoại được thêu dệt, mà là một sự thật lịch sử bằng xương bằng máu.

Cao Bằng17/08/2026Liên chi Đoàn Khoa Điện (Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - ĐHTN )3 lượt xem0 lượt chia sẻ

La Văn Cầu sinh năm 1931 trong một gia đình nông dân nghèo người dân tộc Tày tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Tuổi thơ của ông gắn liền với những đồi núi trập trùng của vùng biên cương, nhưng cũng chứng kiến cảnh quê hương oằn mình dưới gót giày xâm lược của thực dân Pháp. Lớn lên trong bối cảnh đất nước lầm than, bầu nhiệt huyết của chàng thanh niên người Tày sớm được thắp sáng. Năm 1948, khi mới 17 tuổi, La Văn Cầu khai tăng tuổi để được gia nhập bộ đội chủ lực, trở thành chiến sĩ của Trung đoàn 174 (Đoàn Cao Bắc Lạng) lừng danh.

Bước vào mùa thu năm 1950, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam quyết định mở Chiến dịch Biên giới. Mục tiêu là tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một vùng biên giới rộng lớn để khai thông con đường liên lạc quốc tế với các nước xã hội chủ nghĩa. Để làm được điều đó, ta phải nhổ được hệ thống đồn bốt kiên cố của Pháp trên đường số 4. Cứ điểm Đông Khê được chọn làm trận đánh mở màn, nơi được ví như yết hầu của hệ thống phòng ngự địch.

Đông Khê là một cụm cứ điểm phức tạp, được xây dựng trên một khu đồi cao với nhiều lô cốt ngầm kiên cố, tường gạch dày hàng mét, được bao bọc bởi những lớp hàng rào dây thép gai chằng chịt và bãi mìn  dày đặc. Rạng sáng ngày 16 tháng 9 năm 1950, trận đánh lịch sử bắt đầu. Tiếng pháo của quân ta gầm rát, dội xuống đồn địch. Sau loạt pháo mở màn, bộ binh ta từ các hướng bắt đầu tiếp cận. La Văn Cầu khi ấy thuộc Đại đội 671, Tiểu đoàn 251, mang nhiệm vụ vô cùng hiểm nguy: thuộc tổ bộc phá, có trách nhiệm dọn đường, phá hủy các lô cốt để mở cửa cho lực lượng xung kích tràn lên.

Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt. Từ trong các lỗ châu mai của lô cốt ngầm, đặc biệt là lô cốt số 2, hỏa lực súng máy của địch nã ra như mưa rào. Đạn cày xới đất đá, đạn vạch đường xé toạc màn đêm. Những chiến sĩ bộc phá đầu tiên của quân ta ôm khối thuốc nổ lao lên đều bị hỏa lực địch quật ngã. Đội hình xung kích bị khựng lại trước tuyến phòng ngự kiên cố. Tổn thất mỗi lúc một tăng.

Chứng kiến đồng đội liên tiếp ngã xuống, lòng căm thù và ý chí quyết chiến sôi sục trong tâm trí người chiến sĩ trẻ. Không chần chừ, La Văn Cầu xin phép chỉ huy cho mình được tiếp nhận nhiệm vụ. Anh ôm quả bộc phá nặng 12kg, lợi dụng địa hình nấp sau những mô đất, cẩn thận trườn qua những đoạn giao thông hào nham nhở vết đạn pháo.

Khoảng cách từ vị trí xuất phát đến lô cốt số 2 ngày một rút ngắn. Hai mươi mét, rồi mười lăm mét. Khi La Văn Cầu nhô người lên định tạo đà để lao thẳng vào mục tiêu, một loạt đạn súng máy của địch quét trúng anh. Một viên đạn sượt qua xé rách má phải, máu tuôn dầm dề. Nhưng tồi tệ hơn, một viên đạn khác găm thẳng vào cổ tay phải của anh, xuyên phá làm nát vụn xương cốt. La Văn Cầu ngã vật xuống bờ hào.

Cánh tay phải của anh giờ đây đã dập nát, chỉ còn dính lủng lẳng bằng một lớp da và những sợi gân mỏng manh. Mỗi lần anh cố gắng nhích người về phía trước, cánh tay bất động lại vướng vào hàng rào thép gai, rễ cây và đá nhọn, kéo rách vết thương khiến những cơn đau thấu xương tủy chạy dọc cơ thể. Máu mất nhiều khiến anh choáng váng. Trong khoảnh khắc giữa lằn ranh sinh tử ấy, La Văn Cầu nhận thức rất rõ tình thế: Quả bộc phá 12kg quá nặng để có thể ôm bằng một tay khi cơ thể đang bị vướng víu bởi chính cánh tay đã đứt lìa của mình. Nếu anh nằm lại đây, lô cốt địch vẫn khạc đạn, và hàng chục, hàng trăm đồng đội phía sau sẽ tiếp tục làm bia đỡ đạn.

Chính vào giây phút khốc liệt ấy, lịch sử đã chứng kiến một quyết định không tưởng. La Văn Cầu ngoái lại phía sau, gọi người đồng đội cùng quê là Nông Văn Thôi đang yểm trợ gần đó. Anh cắn răng, dồn chút sức lực còn lại rành rọt từng chữ: Đồng chí Thôi, tay tôi gãy rồi, vướng quá không ôm được bộc phá. Đồng chí lấy dao chặt đứt cánh tay này đi cho tôi

Nông Văn Thôi nghe xong, sững sờ đánh rơi cả vũ khí. Anh nhìn cánh tay đầy máu của bạn, nước mắt giàn giụa, lắc đầu từ chối vì biết rằng chặt tay giữa chiến trường, không có thuốc men cấp cứu, bạn mình sẽ chết vì mất máu. Nhưng La Văn Cầu không cho phép sự chần chừ:;Chặt ngay đi! Không chặt, tôi không lên được, anh em chết hết bây giờ. Cứ chặt đi, nhiệm vụ trên hếtSự kiên quyết và mệnh lệnh đanh thép của Cầu đã buộc Thôi phải hành động. Nông Văn Thôi rút thanh dao găm bọc thép, nhắm mắt lại. Nhát thứ nhất chưa đứt, nhát thứ hai vung xuống, cánh tay phải của La Văn Cầu lìa ra khỏi cơ thể. Cơn đau vượt quá sức chịu đựng của một con người bình thường, Cầu cắn nát môi đến rướm máu để không phát ra tiếng kêu làm ảnh hưởng tinh thần anh em.

Được đồng đội xé áo băng rịt tạm thời vết thương tuôn máu xối xả, La Văn Cầu dùng cánh tay trái duy nhất còn lại ôm ghì quả bộc phá 12kg vào ngực. Bằng sức mạnh phi thường được hun đúc từ lòng yêu nước, anh vùng dậy, lao vọt qua lưới lửa tử thần của địch như một ngọn đuốc sống. Anh ép sát quả bộc phá vào tận lỗ châu mai của lô cốt số 2, giật nụ xòe rồi lăn nhanh xuống giao thông hào.

Một tiếng nổ chói tai rung chuyển cả mặt đất. Cột khói bụi bốc lên mù mịt. Lô cốt ngầm kiên cố của quân Pháp vỡ toác, im bặt tiếng súng. Cửa mở đã thông. Tiếng kèn xung phong của quân ta lập tức vang rền khắp các ngọn đồi. Hàng trăm chiến sĩ ào ạt xông lên dứt điểm cứ điểm Đông Khê, mở ra bước ngoặt quyết định cho toàn bộ chiến dịch. Còn La Văn Cầu, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, anh mỉm cười nhìn đồng đội tiến lên rồi ngất lịm đi vì kiệt sức và mất máu.

Hành động oanh liệt của La Văn Cầu nhanh chóng lan truyền khắp các mặt trận, trở thành nguồn động viên tinh thần to lớn cho toàn quân, toàn dân ta. Năm 1952, tại Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất, La Văn Cầu (khi đó mới 21 tuổi) đã vinh dự được  Chủ tịch Hồ Chí Minh phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sau trận chiến, ông tiếp tục cống hiến trong quân đội với nhiều cương vị khác nhau, luôn giữ vững phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ". Cánh tay để lại Đông Khê là minh chứng lịch sử bất diệt cho thấy: Vũ khí tối tân của kẻ thù có thể phá hủy thể xác, nhưng không bao giờ khuất phục được ý chí quật cường của con người Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn