Ngọn đuốc tinh thần mang tên Nguyễn Viết Xuân
Thông tin đang cập nhật
Nổi tiếng với lời hô bất hủ “Nhằm thẳng quân thù mà bắn!” trong kháng chiến chống Mỹ. Lời hô này đã trở thành khẩu hiệu hành động cổ vũ tinh thần chiến đấu cho quân và dân cả nước.
Nguyễn Viết Xuân sinh ngày 20 tháng 1 năm 1933 tại xóm Thượng, xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Sinh ra trong một gia đình bần nông nghèo khổ dưới ách áp bức của chế độ thực dân phong kiến, cuộc đời ông ngay từ thuở nhỏ đã trải qua nhiều giông bão. Mới lên 7 tuổi, do hoàn cảnh gia đình quá túng quẫn, ông đã phải rời xa vòng tay cha mẹ để đi ở đợ, bế em và làm thuê cho địa chủ suốt 10 năm ròng rã. Quá trình lao động lam lũ, bị bóc lột tàn nhẫn đã sớm hun đúc trong tâm hồn cậu bé Xuân một ý chí căm thù giặc sâu sắc và một khát vọng tự do cháy bỏng.
Vào tháng 11 năm 1952, khi vừa tròn 18 tuổi, dũng cảm vượt qua vùng tạm chiếm của địch để ra vùng tự do, Nguyễn Viết Xuân đã tình nguyện viết đơn nhập ngũ, hiến dâng tuổi trẻ cho sự nghiệp bảo vệ quê hương.Trong môi trường quân ngũ, với bản tính chịu khó, thật thà và kỷ luật thép, ông nhanh chóng trưởng thành và được cấp trên tin tưởng giao giữ các chức vụ Tiểu đội trưởng trinh sát rồi Trung đội trưởng pháo cao xạ. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đơn vị của ông tham gia bảo vệ bầu trời tại khu vực đèo Lũng Lô – tuyến huyết mạch giao thông chiến lược của chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Giữa làn bom đạn dày đặc, ông đã cùng đồng đội kiên cường bám trụ mâm pháo, bắn rơi nhiều máy bay địch để bảo vệ an toàn cho các đoàn dân công hỏa tuyến.
Nhờ những thành tích chiến đấu xuất sắc và đạo đức cách mạng gương mẫu, ngày 5 tháng 1 năm 1955, Nguyễn Viết Xuân vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và sau đó được điều động giữ chức Chính trị viên Đại đội 3, Tiểu đoàn
14 pháo cao xạ thuộc Sư đoàn 325, Quân khu 4.Năm 1964, khi đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc, Đại đội 3 của Nguyễn Viết Xuân được lệnh hành quân lên án ngữ tại vùng rừng núi phía Tây tỉnh Quảng Bình nhằm bảo vệ bầu trời biên giới và tuyến đường chi viện tiền tuyến. Sáng ngày 18 tháng 11 năm 1964, một trận chiến khốc liệt và bất cân sức đã diễn ra tại trận địa Cha Lo. Mỹ huy động nhiều tốp máy bay phản lực hiện đại F-100 liên tục lao xuống oanh tạc, trút bom tàn khốc trực tiếp vào vị trí của Khẩu đội 3. Trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc, khi khói bom mù mịt làm che khuất tầm nhìn và nguy cơ làm dao động tinh thần chiến sĩ, Nguyễn Viết Xuân đã bất chấp hiểm nguy, lao ra khỏi công sự chỉ huy. Ông đứng thẳng người ngay bên cạnh mâm pháo khẩu đội 3, cao giọng hô lớn khẩu lệnh: “Nhằm thẳng quân thù, bắn!”. Tiếng hô dõng dạc, uy nghiêm ấy như một hồi kèn xung trận, truyền lửa thép và tiếp thêm sức mạnh vô biên cho các pháo thủ dũng cảm nhấn nút cò pháo, quật ngã các phản lực Mỹ [Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Báo Quân khu 4].
Cuộc chiến càng về sau càng cam go khi kẻ địch điên cuồng quay lại ném bom trả đũa. Trong loạt oanh tạc tiếp theo, một mảnh bom Mỹ đã đánh trúng khiến chân bên phải của Nguyễn Viết Xuân bị dập nát và gần như gãy rời. Để không làm ảnh hưởng đến đội hình chiến đấu và tinh thần của anh em, ông nén đau đớn, nghiêm giọng yêu cầu y tá dùng dao cắt bỏ phần chân dập nát vướng víu rồi giấu kín vào một góc hầm. Với cơ thể đầy thương tích, Thiếu úy Xuân vẫn tỉnh táo tựa lưng vào thành công sự, tiếp tục chỉ huy trận đánh và biểu dương kịp thời những chiến sĩ lập công. Khi nhận thấy sức lực đã cạn kiệt do mất máu quá nhiều, ông bình tĩnh gọi các đồng chí trong ban chỉ huy lại để bàn giao công việc tỉ mỉ, chỉ định người thay thế chỉ huy trận địa và dặn dò kỹ lưỡng về việc tiếp tục chiến đấu [Báo Quân khu 4].Nguyễn Viết Xuân trút hơi thở cuối cùng vào rạng sáng ngày 19 tháng 11 năm 1964 khi mới 31 tuổi.
Sự hy sinh anh dũng và khí phách kiên cường của ông đã đi vào huyền thoại. Ngày 1 tháng 1 năm 1967, liệt sĩ Nguyễn Viết Xuân được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân [Bảo tàng Lịch sử Quốc gia]. Câu nói “Nhằm thẳng quân thù mà bắn!” của ông đã trở thành bài học vỡ lòng về lòng yêu nước của nhiều thế hệ. Ngày nay, tên của người anh hùng vẫn sống mãi cùng non sông, được trân trọng đặt cho nhiều đường phố lớn, trường học các cấp và các nông trường trên khắp cả nước, là nguồn cảm hứng bất tận về tinh thần quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam.


