ngọn lửa bất tử
NGỌN LỬA BẤT TỬ Ở KHÁM CHÍ HÒA
Tháng 5 năm 1964, cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam đi vào giai đoạn vô cùng khốc liệt. Để chuẩn bị cho đợt công tác của phái đoàn quân sự cao cấp Mỹ do Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu sang Sài Gòn nhằm tăng cường viện trợ và mở rộng chiến tranh, lực lượng Biệt động Sài Gòn nhận lệnh thực hiện một trận đánh táo bạo: ám sát McNamara ngay tại cầu Công Lý – con đường độc đạo mà đoàn xe quân sự Mỹ bắt buộc phải đi qua.
Người thanh niên nhận nhiệm vụ lịch sử ấy là Nguyễn Văn Trỗi, một thợ điện 24 tuổi quê ở Điện Bàn, Quảng Nam, hiện đang sống và làm việc tại Sài Gòn. Anh vừa mới lập gia đình với chị Phan Thị Quyên được vỏn vẹn 19 ngày. Trong căn nhà trọ nhỏ, tình yêu lứa đôi còn chưa kịp bén hơi ấm thì lý tưởng cách mạng và lòng yêu nước đã thúc giục người lính trẻ gác lại hạnh phúc riêng tư để dấn thân vào cõi chết.
Đêm ngày 9 tháng 5 năm 1964, khi đang cẩn trọng gài quả mìn nặng 8kg dưới chân cầu Công Lý, Nguyễn Văn Trỗi không may bị rò rỉ thông tin và rơi vào tay địch.
Những ngày sau đó trong nhà tù Khám Chí Hòa là một chuỗi ác mộng tra tấn dã man. Chính quyền Sài Gòn và cố vấn Mỹ dùng đủ mọi thủ đoạn hòng bẻ gãy ý chí của anh: từ châm điện, đóng đinh vào đầu ngón tay, dùng roi gân bò đánh đập, cho đến những lời dụ dỗ về tiền tài, địa vị và lời hứa cho anh trở về với người vợ trẻ. Nhưng đáp lại mọi ngục hình và cạm bẫy ấy chỉ là sự im lặng kiên cường hoặc những lời đanh thép của anh: "Tôi làm việc này là vì lòng yêu nước, vì đất nước tôi đang bị xâm lược!".
Biết không thể khai thác được bất kỳ thông tin nào, chính quyền Mỹ - Sài Gòn đã vội vã đưa anh ra tòa án quân sự và tuyên án tử hình nhằm đe dọa phong trào đấu tranh của thanh niên, sinh viên đô thành.
Sáng ngày 15 tháng 10 năm 1964, tại pháp trường nằm trong khuôn viên Khám Chí Hòa, địch bố trí lực lượng cảnh sát dày đặc cùng đông đảo phóng viên, báo chí trong và ngoài nước đến đưa tin. Chúng muốn biến buổi hành quyết thành một đòn răn đe công khai.
Nguyễn Văn Trỗi bước ra pháp trường với tư thế thẳng đứng, đôi mắt sáng quắc và gương mặt thanh thản lạ kỳ. Anh mặc chiếc áo sơ mi trắng đơn sơ, đôi chân mang dép cao su. Khi các toán lính hành quyết tiến lại định dùng dải vải đen buộc mắt anh, anh dứt khoát ngoảnh đầu tránh né và gằn giọng phẫn hộ:
"Không! Đừng buộc mắt tôi! Hãy để tôi nhìn mảnh đất này, nhìn đất nước thân yêu của tôi cho đến phút cuối cùng! Tôi không có tội! Kẻ có tội là bọn đế quốc xâm lược!"
Trước sự kiên cường và khí tiết bất khuất của người thanh niên trẻ, toán lính hành quyết run rẩy, bối rối. Báo chí nước ngoài liên tục bấm máy, ghi lại những khoảnh khắc chấn động lòng người.
Khi chúng trói anh vào cột gỗ và chuẩn bị phát lệnh nổ súng, Nguyễn Văn Trỗi lấy hết tàn lực trong lồng ngực gào to những lời đanh thép, xé rách không gian u uất của pháp trường:
"Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ! Đả đảo Nguyễn Khánh! Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!"
Tiếng súng nổ vang lên dồn dập. Anh gục xuống dưới chân cột gỗ, nhưng ba lần anh gục xuống là ba lần anh gắng ngẩng cao đầu hô vang khẩu hiệu cuối cùng cho đến trút hơi thở cuối cùng. Nguyễn Văn Trỗi ngã xuống khi vừa tròn 24 tuổi – lứa tuổi đẹp nhất của cuộc đời.
Sự hy sinh oanh liệt và câu nói bất tử của Nguyễn Văn Trỗi tại pháp trường đã tạo nên một làn sóng xúc động và căm thù sôi nổi không chỉ trong nước mà còn trên toàn thế giới. Tại Venezuela, một lực lượng du kích đã bắt giữ một sĩ quan Mỹ để đòi đổi lấy tự do cho Nguyễn Văn Trỗi. Tấm gương của anh đã trở thành biểu tượng sống động, thôi thúc hàng triệu thanh niên Việt Nam gác bút nghiên, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước.
Chiến tranh đã khép lại, cầu Công Lý năm xưa giờ đây mang tên cầu Nguyễn Văn Trỗi, sừng sững bắc qua dòng kênh xanh mát giữa lòng TP. Hồ Chí Minh. Hình ảnh người thanh niên áo trắng đứng thẳng trước họng súng kẻ thù vẫn sống mãi như một bản hùng ca bất tử về lòng trung thành, khí tiết kiên trung của thế hệ trẻ thời hoa lửa.



