NGỌN LỬA CÁCH MẠNG BẤT DIỆT

Trang sử của một thời hoa lửa không chỉ được viết bằng những vệt pháo sáng trên bầu trời hay tiếng gầm gừ của đại liên nơi chiến trường khốc liệt. Nó còn được tạc nên bởi những khoảng lặng đớn đau trong xà xóm chật hẹp, nơi những người chiến sĩ đối mặt với kẻ thù bằng một thứ vũ khí duy nhất: niềm tin. Giữa những năm tháng gian lao ấy, hình ảnh người nữ cán bộ cách mạng với nụ cười kiêu hãnh gạt phắt chiếc băng đen trước họng súng kẻ thù đã trở thành một nét chạm khắc bi hùng, ghi dấu ấn bất tử của lòng trung kiên.
Người con gái ấy là Nguyễn Thị Minh Khai, tên khai sinh là Nguyễn Thị Vịnh, cất tiếng khóc chào đời vào ngày 1 tháng 11 năm 1910 tại vùng đất nắng gió thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Lớn lên trong một gia đình công chức nhỏ – cha làm nhân viên ga tàu hỏa, mẹ tảo tần buôn bán ngược xuôi ở chợ Vinh, tuổi thơ của chị thấm đượm những nhọc nhằn của người dân lao động dưới ách đô hộ. Từng chứng kiến những giọt nước mắt chua chát của đồng bào và sự hách dịch của bọn quan lại thực dân ngay trên quê hương, cô học trò trường tiểu học Cao Xuân Dục đã sớm nuôi dưỡng một ý chí căm thù gông còng áp bức.
Năm 1927, khi bước vào tuổi 17 – cái tuổi xuân mộng đẹp đẽ nhất của người thiếu nữ, chị gạt qua những êm đềm riêng tư để bước vào con đường chông gai: gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng. Với trí tuệ sắc sảo và sự nhiệt thành bốc cháy, chị nhanh chóng trở thành hạt nhân vận động phong trào công nhân, phụ nữ ở vùng Bến Thủy. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, chị trở thành một trong những nữ đảng viên đầu tiên, nhận lệnh xuất dương sang Hương Cảng làm việc tại Văn phòng Chi nhánh Đông Dương của Quốc tế Cộng sản.
Chặng đường bôn ba xứ người là chuỗi ngày đối mặt với hiểm nguy rình rập. Chị vừa tự học tiếng Pháp, tiếng Trung, vừa sống gieo neo giữa sự săn lùng gắt gao của mật thám. Năm 1931, chị bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam tại Quảng Châu. Những trận đòn roi, những đêm lạnh thấu xương trong xà xóm không quật ngã được người con gái xứ Nghệ. Ra tù, chị tiếp tục sang Mát-scơ-va học tập tại Trường Đại học Phương Đông và vinh dự trở thành đại biểu chính thức cất tiếng nói đại diện cho phụ nữ Đông Dương tại Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản năm 1935.
Trở về nước năm 1936 giữa bối cảnh phong trào Mặt trận Dân chủ lên cao, chị Nguyễn Thị Minh Khai được giao trọng trách Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Giữa lòng đô thị hừng hực lửa đấu tranh, chị cùng người đồng chí, người bạn đời Lê Hồng Phong âm thầm gieo mầm cách mạng, chỉ đạo các cuộc bãi công, biểu tình rầm rộ của công nhân và phụ nữ.
Tháng 7 năm 1940, ngay trước thời điểm cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, chị bị mật thám Pháp phục kích bắt giữ. Nhận diện đây là "bộ óc" nguy hiểm của phong trào, kẻ thù đã trút xuống thân thể chị những ngón tra tấn dã man nhất: kẹp điện, dội nước xà phòng, tra khảo đêm ngày. Nhưng đáp lại sự bạo tàn ấy chỉ là ánh mắt rực lửa căm thù và một sự im lặng thép. Nơi Khám Lớn Sài Gòn tối tăm, chị cắn rách ngón tay, dùng chính những giọt máu đào của mình viết lên tường ngục những dòng thơ thề giữ vững chí khí dũng cảm của người cộng sản.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Biết không thể khuất phục được tinh thần ấy, sáng ngày 28 tháng 8 năm 1941, thực dân Pháp đưa chị cùng các đồng chí lãnh đạo ra hòn bộc phá ở Hóc Môn (Gia Định) để hành quyết. Khi tên đao phủ tiến lại gần định buộc dải băng đen che mắt, chị Nguyễn Thị Minh Khai đã dùng hết sức lực gạt phắt tay hắn ra. Chị đứng thẳng, ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào những nòng súng đang chĩa về phía mình, dõng dạc hô vang lời thề chiến đấu cho độc lập, tự do của Tổ quốc trước khi ngã xuống ở tuổi 31.
Khép lại 31 năm cuộc đời, sự hy sinh của chị Nguyễn Thị Minh Khai không phải là sự kết thúc, mà là sự thắp sáng. Máu của chị hòa vào lòng đất Hóc Môn đã trở thành phù sa nuôi dưỡng tinh thần quật cường cho các thế hệ tiếp nối.
Hôm nay, tên của người nữ Bí thư Thành ủy quả cảm ấy sống cùng những con đường thắm sắc hoa, những mái trường rộn rã tiếng cười trên khắp mọi miền đất nước. Nụ cười không che mắt trước pháp trường năm ấy vẫn lặng lẽ soi đường, nhắc nhở chúng ta về giá trị của tự do – một giá trị đã được đánh đổi bằng máu và tuổi trẻ của những con người kiên trung thời hoa lửa.



