NGỌN LỦA HÁT GIANG
Lời thề non nước tại cửa sông Hát đã biến nỗi đau thù nhà, nợ nước thành ý chí quật cường, thắp lên ngọn lửa khởi nghĩa rực rỡ muôn đời.
Vào những năm đầu thế kỷ I, dưới ách thống trị tàn bạo của ngoại bang, nhân dân Giao Chỉ lầm than trong cảnh nước sôi lửa bỏng. Giữa thời cuộc ngổn ngang ấy, tại vùng Mê Linh, hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị đã sớm mang trong mình dòng máu quật cường và tình yêu nước thiết tha.
Khi người bạn đời yêu thương của Trưng Trắc là Thi Sách bị sát hại nhằm bừng tắt ý chí của nghĩa nhân, nỗi đau riêng ấy đã không quật ngã được người phụ nữ ki kiên cường. Trái lại, nó hóa thành ngọn lửa sục sôi, thôi thúc hai chị em đứng lên phất cao ngọn cờ đại nghĩa.
Vào một buổi sáng mùa xuân năm 40 Dương lịch, tại bến Hát Giang cuộn sóng, trước hàng vạn nghĩa quân và đồng bào từ muôn ngả tụ hội, Trưng Trắc hiên ngang bước lên đài thề. Nơi cửa sông lịch sử, dòng nước cuồn cuộn chảy như hòa cùng nhịp đập của những trái tim đang hướng về Tổ quốc. Giữa không gian thiêng liêng ấy, giọng đọc đanh thép, hào hùng mà nghẹn ngào của bà vang vọng cả đất trời:
"Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hưng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻ mặt hải lòng cho xong."
Đó không chỉ là lời thòi đòi lại món nợ nước, thù nhà, mà là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên bằng máu và nước mắt của dân tộc ta. Tiếng hô đồng thanh vang dội của nghĩa quân bên sóng nước Hát Giang đã thắp lên ngọn lửa rực rỡ nhất của "thời hoa lửa", mở đường cho một kỷ nguyên tự chủ oanh liệt sau hơn hai thế kỷ chìm trong đêm đen nô lệ.



