NGỌN LỬA KHÔNG BAO GIỜ TẮT
Có những cái tên chỉ còn lại vài dòng trên tấm bia đá.
Nhưng chính những con người ấy đã viết nên cả một dân tộc bằng máu.
Tôi đã hiểu điều đó trong một buổi chiều đứng trước nghĩa trang liệt sĩ, khi một bác cựu chiến binh khẽ đọc cho tôi nghe cái tên Nguyễn Minh Sâm – người con của quê hương An Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Hà Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Giang), đã anh dũng hi sinh vào ngày 07 tháng 9 năm 1965 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Không có nhiều tư liệu về anh.
Không có những trang hồi ký dày hàng trăm trang.
Không có những bức ảnh được lưu giữ trọn vẹn theo năm tháng.
Chỉ còn một cái tên.
Một quê hương.
Một ngày hy sinh.
Nhưng đôi khi, chỉ từng ấy thôi cũng đủ để khiến một thế hệ hôm nay phải cúi đầu.
Tôi sinh ra giữa hòa bình.
Những ngày tháng Chín của tôi là mùa tựu trường, là sắc cờ đỏ rực trong nắng thu, là những con đường bình yên đưa học sinh đến lớp.
Còn tháng Chín năm 1965 của Nguyễn Minh Sâm lại khác.
Đó là tháng Chín của tiếng còi báo động.
Là tháng Chín của những đoàn quân nối nhau lên đường.
Là tháng Chín mà bầu trời miền Bắc không chỉ có mây trắng, mà còn có khói bom và những vệt lửa xé ngang không trung.
Năm 1965, chiến tranh đã bước sang một ngưỡng cửa khốc liệt. Sau khi đưa quân viễn chinh vào miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, đế quốc Mỹ muốn khuất phục ý chí của dân tộc Việt Nam bằng bom đạn. Nhưng càng đánh phá, họ càng gặp phải một dân tộc không chịu khuất phục.
Trong những đoàn người lên đường ngày ấy có Nguyễn Minh Sâm.
Tôi không biết gương mặt anh ra sao.
Không biết giọng nói anh trầm hay ấm.
Không biết trước lúc chia tay quê nhà, anh đã nói điều gì với mẹ.
Nhưng tôi biết chắc một điều.
Anh cũng giống như hàng triệu thanh niên Việt Nam thời ấy: mang theo tuổi trẻ để đổi lấy độc lập cho dân tộc.
Một bác cựu chiến binh kể với tôi rằng, điều đáng quý nhất ở thế hệ những người lính năm xưa không phải là họ không biết sợ.
Mà là dù biết có thể không trở về, họ vẫn bước tới.
Họ đi bằng lòng yêu nước.
Họ sống bằng niềm tin.
Và khi cần, họ sẵn sàng hiến dâng cả cuộc đời.
Ngày 07 tháng 9 năm 1965, Nguyễn Minh Sâm đã ngã xuống.
Có thể nơi anh nằm lại không có người thân bên cạnh.
Không có vòng tay của mẹ.
Không có mái nhà quê hương.
Chỉ có đất nước ôm lấy người con của mình.
Chỉ có đồng đội khắc ghi tên anh giữa khói lửa.
Và từ khoảnh khắc ấy, cuộc đời của một con người khép lại để mở ra tương lai của cả dân tộc.
Điều khiến tôi ám ảnh nhất sau câu chuyện của bác cựu chiến binh không phải là tiếng súng.
Mà là chiếc khăn tay.
Bác nói, ngày ấy nhiều người lính trẻ lên đường thường mang theo một chiếc khăn tay mẹ hoặc chị em trong nhà gửi gắm. Chiếc khăn nhỏ bé dùng để lau mồ hôi, gói vài kỷ vật, đôi khi là vật cuối cùng còn lại sau một trận chiến.
Từ đó, trong suy nghĩ của tôi, chiếc khăn tay trở thành biểu tượng của tình yêu quê hương.
Nó mềm mại như tình mẹ.
Bình dị như mái nhà.
Nhưng cũng bền bỉ như ý chí của những người lính.
Có thể chiếc khăn đã cũ đi theo năm tháng.
Nhưng tình yêu nước gửi trong đó thì chưa bao giờ phai nhạt.
Hôm nay, tôi đeo trên vai chiếc ba lô đến giảng đường, cầm trên tay chiếc điện thoại kết nối với cả thế giới.
Còn Nguyễn Minh Sâm và biết bao người trẻ năm ấy chỉ mang theo niềm tin rằng đất nước nhất định sẽ có ngày hòa bình.
Niềm tin ấy đã trở thành hiện thực.
Nhưng hiện thực ấy không tự nhiên mà có.
Nó được xây bằng máu của những người chưa kịp sống hết tuổi thanh xuân.
Thế hệ chúng tôi không còn đối diện với bom rơi đạn nổ.
Nhưng chúng tôi có một sứ mệnh khác: giữ gìn hòa bình bằng tri thức, bằng trách nhiệm, bằng khát vọng cống hiến, bằng sự trung thực và bằng tinh thần không bao giờ quay lưng với lịch sử.
Bởi một dân tộc chỉ thật sự mạnh khi những người trẻ biết mình đang bước tiếp trên con đường được đánh đổi bằng sự hy sinh của cha anh.
Nguyễn Minh Sâm có thể chỉ còn là một cái tên trên bia mộ đối với nhiều người. Nhưng với tôi, anh là một ngọn lửa. Ngọn lửa ấy không cháy để thiêu rụi chiến tranh, mà cháy để thắp sáng lương tri, đánh thức lòng biết ơn và nhắc mỗi người trẻ hôm nay rằng: nếu cha anh đã hiến dâng tuổi trẻ để giữ lấy Tổ quốc, thì chúng ta không có quyền sống một tuổi trẻ vô nghĩa.



