NGỌN LỬA KHÔNG TẮT
Có những con người bước qua chiến tranh không chỉ bằng đôi chân của tuổi trẻ, mà bằng cả lý tưởng, lòng trung thành và sự hy sinh thầm lặng. Có những câu chuyện dù đã lùi xa hàng chục năm, nhưng mỗi khi nhắc lại vẫn khiến lòng người nghẹn lại bởi sự khốc liệt của chiến tranh và vẻ đẹp của người lính Cụ Hồ.Trong cuộc thi “Câu chuyện thời Hoa Lửa”, tôi muốn kể về một người lính như thế – bác Hoàng Văn Nghi, sinh năm 1949, quê tại thôn 9, xã Thượng Bằng La.
Bác Nghi sinh ra trong những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Học hết lớp 7/10, tháng 10 năm 1965, bác tham gia công tác tại đội vận chuyển thư báo, công văn của Ty Bưu điện tỉnh Nghĩa Lộ. Ngày ấy, công việc tưởng như bình dị nhưng lại vô cùng nguy hiểm. Những lá thư, những công văn được chuyển đi giữa bom đạn chính là mạch máu thông tin của cách mạng. Tuổi trẻ của bác bắt đầu từ những con đường rừng, những đêm vượt núi, băng suối để đưa thư đến đúng nơi, đúng lúc.
Đến tháng 4 năm 1968, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, bác lên đường nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện tại C9, bác được biên chế vào C23 trinh sát, Trung đoàn 174, Sư đoàn 316, Quân khu Tây Bắc.
Đó cũng là thời điểm chiến trường nước bạn Lào vô cùng ác liệt.
Tháng 1 năm 1969, đơn vị của bác hành quân sang nước bạn để giúp cách mạng Lào. Những người lính trẻ Việt Nam ngày ấy phải đi bộ xuyên rừng, vượt núi, thiếu ăn, thiếu thuốc men nhưng vẫn quyết tâm chiến đấu bảo vệ tình hữu nghị quốc tế cao cả.
Bác kể rằng, trận đầu tiên bác tham gia là chiến đấu ở Na Khằng, tỉnh Sầm Nưa. Sau đó đơn vị tiếp tục hành quân xuống Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng, nơi được xem là “chảo lửa” của chiến trường Lào thời bấy giờ.
Ở đó, quân ta phải đối đầu với “bốn thứ quân”:
· Quân phỉ Vàng Pao;
· Quân đánh thuê Thái Lan;
· Quân trung lập phản động của Quang LE;
· Và quân đội Hoàng gia Lào do Mỹ hậu thuẫn.
Nhắc lại những năm tháng ấy, giọng bác vẫn trầm xuống: “Đánh nhau ngày đêm, bom đạn phủ kín núi rừng. Có những hôm vừa đào công sự xong thì máy bay lại đến ném bom…”
Đơn vị của bác đã tham gia nhiều trận đánh lớn:
· Giải phóng Mường Sủi;
· Đánh vào sân bay Nà Khạng;
· Tổng tiến công vào Sầm Thông – căn cứ hậu cần lớn nhất của Vàng Pao;
· Và tiến công khu vực Noọng Chẹng – nơi được xem như “thủ phủ” của lực lượng phản động.
Năm 1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, kẻ thù cho rằng quân đội Việt Nam sẽ suy sụp tinh thần. Chúng huy động lực lượng lớn phản công dữ dội vào chiến trường Lào.
Nhưng điều chúng không ngờ là những người lính Việt Nam càng đau thương càng chiến đấu kiên cường hơn.
Bác Nghi cùng đồng đội tiếp tục bám trụ giữa mưa bom bão đạn. Có thời điểm trên chiến trường chỉ còn Trung đoàn 174 và Trung đoàn 866 tình nguyện Việt Nam kiên cường giữ trận địa.
Từ năm 1969 đến năm 1972 là giai đoạn ác liệt nhất. Quân Thái Lan cùng các lực lượng phản động liên tục tấn công kho tàng, căn cứ của quân giải phóng. Chúng cướp phá, đốt sạch nhiều nơi hòng cắt đường tiếp tế.
Nhưng tháng 7 năm 1972, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với quân cách mạng Lào mở chiến dịch phản công lớn. Các đơn vị của Sư đoàn 312, Trung đoàn 141 cùng nhiều lực lượng khác đồng loạt tiến công.
Sau những trận chiến quyết liệt, Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng được giải phóng hoàn toàn.
Bác kể lại với niềm tự hào sâu sắc: “Khi quân Thái Lan rút chạy về nước, chúng đã phải thốt lên rằng: ‘Ba đời vẫn khiếp sợ quân đội Việt Nam.’”
Đó không chỉ là chiến thắng của sức mạnh quân sự, mà còn là chiến thắng của ý chí, lòng quả cảm và tinh thần quốc tế cao đẹp của người lính Cụ Hồ.
Tháng 7 năm 1972, bác được cử đi học tại Trường Sĩ quan Thông tin. Sau nhiều năm tiếp tục phục vụ trong quân đội, tháng 1 năm 1987, bác nghỉ chế độ bệnh binh 2/3 với quân hàm Đại úy, chức vụ Đại đội trưởng C12, Tiểu đoàn 30, Trung đoàn 604, Quân khu 2.
Trên ngực áo người lính năm xưa là nhiều huân chương kháng chiến cùng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng – những phần thưởng cao quý cho một đời cống hiến.Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất của bác chính là được sống trong hòa bình, được nhìn thấy đất nước hôm nay đổi thay từng ngày.
Nghe bác kể chuyện chiến tranh tôi thấy như bác Nghi vẫn đang trong các trận chiến mưa bom bão đạn năm ấy, tôi càng hiểu rằng: Hòa bình hôm nay không tự nhiên mà có. Đó là máu, là nước mắt, là tuổi xuân của biết bao thế hệ cha anh đã ngã xuống và hy sinh thầm lặng.
Người lính năm xưa giờ mái tóc đã bạc trắng, bước chân không còn nhanh như trước. Nhưng trong ánh mắt bác Hoàng Văn Nghi vẫn cháy lên một ngọn lửa – ngọn lửa của lòng yêu nước, của lý tưởng cách mạng và niềm tin son sắt với Đảng, với nhân dân.
Ngọn lửa ấy chính là “hoa lửa” đẹp nhất mà thế hệ trẻ hôm nay cần gìn giữ và tiếp nối.


