NGỌN LỬA KHÔNG TẮT NƠI MIỀN BIỂN DÒNG DÂY – CÂU CHUYỆN VỀ MẸ VNAH DƯƠNG THỊ CẢNH
Tôi có dịp về lại vùng đất Duyên Hải trong một chuyến công tác sưu tầm tư liệu về các Mẹ Việt Nam Anh hùng. Con đường dẫn vào ấp Long Điền, xã Long Toàn hôm ấy lặng lẽ, gió biển thổi mang theo vị mặn nồng của quê hương. Giữa không gian bình dị ấy, tôi được nghe kể về một người mẹ đã sống trọn đời cho đất nước – Mẹ Việt Nam Anh hùng Dương Thị Cảnh. Mẹ sinh năm 1922, là người phụ nữ nông dân chân chất, cả đời gắn bó với ruộng đồng, với xóm làng. Mẹ cùng chồng – ông Hà Văn Luận – nuôi dạy 9 người c
Tôi có dịp về lại vùng đất Duyên Hải trong một chuyến công tác sưu tầm tư liệu về các Mẹ Việt Nam Anh hùng. Con đường dẫn vào ấp Long Điền, xã Long Toàn hôm ấy lặng lẽ, gió biển thổi mang theo vị mặn nồng của quê hương. Giữa không gian bình dị ấy, tôi được nghe kể về một người mẹ đã sống trọn đời cho đất nước – Mẹ Việt Nam Anh hùng Dương Thị Cảnh.
Mẹ sinh năm 1922, là người phụ nữ nông dân chân chất, cả đời gắn bó với ruộng đồng, với xóm làng. Mẹ cùng chồng – ông Hà Văn Luận – nuôi dạy 9 người con khôn lớn trong những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Cuộc sống vốn đã vất vả, nhưng khi Tổ quốc gọi tên, những người con của Mẹ lại tiếp bước nhau lên đường, mang theo niềm tin và lý tưởng cách mạng.
Trong câu chuyện của các cô chú lớn tuổi trong ấp, tôi không thể quên ánh mắt trầm lặng khi nhắc đến hai người con của Mẹ – liệt sĩ Hà Văn Cao và liệt sĩ Hà Văn Lào.
Anh Hà Văn Cao – người con trai sinh năm 1947 – tham gia cách mạng khi tuổi đời còn rất trẻ. Là Xã đội phó xã Long Toàn, anh đã trực tiếp chỉ huy và tham gia nhiều trận đánh. Ngày 25 tháng 12 năm 1972, trong một trận đánh đặc công vào bót Long Toàn, anh đã anh dũng hy sinh. Người dân kể lại, hôm ấy tiếng súng vang lên giữa đêm tối, nhưng tinh thần chiến đấu của anh và đồng đội đã thắp sáng cả một vùng quê.
Còn anh Hà Văn Lào – sinh năm 1949 – tham gia cách mạng từ năm 1966, là Tiểu đội trưởng du kích xã. Anh hy sinh vào ngày 27 tháng 11 năm 1971 khi đang làm nhiệm vụ bảo vệ cuộc họp của cấp ủy. Trong một trận phục kích bất ngờ của địch tại ấp Giồng Trôm, anh đã ngã xuống, để lại phía sau là mẹ già và những người thân yêu.
Hai người con, hai lần tiễn biệt…
Không có nỗi đau nào có thể đo đếm được.
Người dân kể rằng, ngày nhận tin con hy sinh, Mẹ Dương Thị Cảnh không gục ngã. Mẹ lặng lẽ thắp nhang, nước mắt chảy vào trong. Mẹ nói: “Con tôi mất, nhưng đất nước còn, vậy là đáng…”. Câu nói giản dị ấy, đến hôm nay vẫn khiến tôi nghẹn lòng.
Mẹ đã biến nỗi đau thành sức mạnh, tiếp tục động viên những người con còn lại, tiếp tục bám đất, bám làng, góp phần nuôi dưỡng cách mạng. Suốt những năm tháng chiến tranh, Mẹ không chỉ là hậu phương của gia đình, mà còn là điểm tựa tinh thần cho cả xóm làng.
Năm tháng qua đi, chiến tranh lùi xa, nhưng những mất mát của Mẹ vẫn còn đó – âm thầm mà sâu sắc.
Để ghi nhận sự hy sinh cao cả ấy, ngày 26 tháng 3 năm 2014, Chủ tịch nước đã truy tặng Mẹ danh hiệu cao quý “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Đó không chỉ là sự vinh danh dành riêng cho Mẹ, mà còn là lời tri ân của cả dân tộc đối với những người mẹ đã dâng hiến những điều thiêng liêng nhất cho Tổ quốc.
Rời Long Toàn, tôi mang theo trong lòng một nỗi xúc động khó tả. Giữa cuộc sống hôm nay, khi hòa bình đã trở thành điều bình thường, những câu chuyện như của Mẹ Dương Thị Cảnh nhắc nhở tôi – và cả thế hệ trẻ – về giá trị của độc lập, tự do.
Mẹ đã đi xa, nhưng ngọn lửa yêu nước từ trái tim Mẹ vẫn còn cháy mãi nơi vùng đất này.
Và trong tôi, câu chuyện về Mẹ không chỉ là một ký ức được ghi chép lại, mà là một lời nhắc nhở thiêng liêng:
Hãy sống xứng đáng với những hy sinh đã làm nên Tổ quốc hôm nay.



