Khác

Ngọn lửa kiên cường bên dòng Như Nguyệt

Câu chuyện kể về cuộc đời và sự nghiệp của danh tướng Lý Thường Kiệt – người có tài thao lược, lòng yêu nước và ý chí kiên cường. Qua những chiến công tiêu biểu như đánh Chiêm Thành, chủ động tiến công quân Tống năm 1075 và chiến thắng trên phòng tuyến sông Như Nguyệt năm 1077, câu chuyện làm nổi bật tài năng lãnh đạo, tinh thần bất khuất và công lao to lớn của ông trong sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Hà Nội30/10/2026Vũ Phương Anh (Phường Long Hoa)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Ngọn lửa kiên cường bên dòng Như Nguyệt

Lý Thường Kiệt (1019 – 1105). Ông vốn họ Ngô, tên Tuấn, tự là Thường Kiệt, quê ở làng An Xá, huyện Quảng Đức (nay làng Cơ Xá, Gia Lâm, Hà Nội). Sau ông cùng gia đình sang ở tại phường Thái Hòa, huyện Thọ Xương, thành Thăng Long nay là Hà Nội. Ông là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ, cháu 5 đời của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập- Hoàng tử trưởng của Tiền Ngô Vương Ngô Quyền

Lý Thường Kiệt là vị tướng tài ba thời nhà Lý, quê ở làng An Xá, Hà Nội. Ông sinh ra trong gia đình có truyền thống học hành và làm quan. Từ nhỏ, ông đã thông minh, chăm đọc sách binh thư và luyện tập võ nghệ.

Nhờ tài năng và đức độ, ông được vua Lý Thái Tổ nhận làm con nuôi, đổi tên thành Lý Thường Kiệt. Trải qua ba triều vua, ông lập nhiều chiến công hiển hách, nổi bật là cuộc tiến đánh Chiêm Thành năm 1069, bắt sống vua Chế Củ.

Năm 1075, trước âm mưu xâm lược của nhà Tống, Lý Thường Kiệt đưa ra chủ trương “Tiến công trước để tự vệ”, chỉ huy 10 vạn quân tiến đánh các căn cứ quân sự của Tống và chiếm được thành Ung Châu sau 42 ngày đêm. Sau chiến thắng, ông đưa quân về nước, tích cực chuẩn bị lực lượng và xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt để chống giặc.

Cuối năm 1076 đầu năm 1077, muốn trả thù nước Đại Việt, triều đình nhà Tống sai Quách Quỳ xuất quân và phối hợp cùng với quân Chiêm Thành và Chân Lạp sang đánh nước Đại Việt. Quân và dân Đại Việt dưới quyền chỉ huy của Lý Thường kiệt đã kiên cường chiến đấu, kìm chân quân xâm lược Tống hàng tháng trước trận tuyến phòng thủ sông Cầu. Quân Tống bị chặn lại ở sông Như Nguyệt (sông Cầu), bị tiêu hao sinh lực, giảm sút tinh thần rồi sa vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”. Quân Tống đành phải đem quân về đóng ở sông Phú Lương (khúc sông Cầu từ Như Nguyệt trở lên, thời Lý gọi là sông Phú Lương). Lý Thường Kiệt đem binh thuyền đến chặn không cho sang sông, nhưng quân đội của Quách Quỳ dùng máy gỗ bắn đá vào thuyền của quân ta. Thấy quân Tống hăng hái quá, Lý Thường Kiệt e quân ta sẽ ngã lòng lền đặt ra một bài thơ mang tên “Nam quốc sơn hà, khẳng định chủ quyền dân tộc và cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân ta. Sau đó, ông chủ động giảng hòa, buộc quân Tống rút về nước. Với chiến thắng đó, độc lập chủ quyền lãnh thổ quốc gia Đại Việt được giữ vững, nhân dân được sống thanh bình. Chiến thắng của Lý Thường Kiệt năm 1077 là sự mở đầu cho đường lối kết hợp vừa đánh, vừa đàm để kết thúc chiến tranh trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam.

Không chỉ có công đánh Tống, năm 1103, dù tuổi đã cao, ông vẫn xin đem quân đi đánh dẹp và đã chiến thắng, Lý Giác chạy trốn sang Chiêm Thành. Quân Chiêm Thành lấy lý do ấy đem quân sang lấn cướp biên giới. Năm 1104, Lý Thường Kiệt lại được lệnh đem quân đi đánh Chiêm Thành và thu được thắng lợi. Chúa Chiêm Thành phải trả lại đất ba châu mà họ đã chiếm. Đây cũng là cuộc cầm quân và chiến thắng cuối cùng của vị tướng trăm trận trăm thắng Lý Thường Kiệt.

Tháng 6 năm 1105, Lý Thường Kiệt qua đời. Sau khi ông mất, nhân dân lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của ông. Ông là vị tướng tài giỏi, mưu lược, có nhiều đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đặc biệt là giữ vững nền độc lập, chủ quyền dân tộc.

Video / Phóng sự

Audio / Lời kể nhân chứng

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn