Ngọn lửa kiên trung trong những năm tháng cách mạng
Đồng chí Hà Huy Giáp sinh ngày 04/4/1907 , tại xã Sơn Thịnh, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nơi có truyền thống yêu nước, hiếu học, xuất hiện nhiều nhân tài, hào kiệt nối tiếp từ thế hệ này đến thế hệ khác chống giặc ngoại xâm, góp phần giữ vững giang sơn gấm vóc. Cha đồng chí Hà Huy Giáp là ông Hà Huy Ái, thường gọi là cụ Tú Ái , thầy giáo dạy chữ nho và làm thầy thuốc. Ông có tư tưởng yêu nước và chịu ảnh hưởng của phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp xâm lược. Mẹ là bà Lê Thị Nguyệt, chịu
Trên vùng đất Hương Sơn, Hà Tĩnh, nơi núi rừng trầm mặc và những cánh đồng gió Lào cháy nắng, năm 1907 (có tài liệu ghi 1908) một cậu bé cất tiếng khóc chào đời trong gia đình nhà nho nghèo. Cậu bé ấy tên là Hà Huy Giáp, sau này trở thành một chiến sĩ cộng sản kiên trung, dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Hà Huy Giáp
Cha ông là thầy giáo dạy chữ Nho, mẹ là người phụ nữ tảo tần. Từ nhỏ, Giáp đã được nghe những câu chuyện về các bậc anh hùng như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu và Nguyễn Ái Quốc. Những câu chuyện ấy giống như những hạt lửa âm ỉ trong trái tim người thanh niên trẻ. Ông sớm nhận ra nỗi đau của một dân tộc đang sống dưới ách áp bức của thực dân và phong kiến, và tự nhủ phải làm điều gì đó cho đất nước.
Năm 1925, sau khi học xong ở Vinh, Hà Huy Giáp ra Hà Nội học tiếp. Nhưng giảng đường chưa kịp mở ra tương lai thì phong trào yêu nước đã cuốn ông vào con đường đấu tranh. Năm 1926, khi tham gia phong trào học sinh tổ chức lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Châu Trinh, ông bị thực dân Pháp đuổi học. Cánh cửa trường học khép lại, nhưng cánh cửa cách mạng lại mở ra. Từ đó, người thanh niên Hà Tĩnh bước vào con đường hoạt động bí mật, gia nhập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và thề sẽ “suốt đời phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng đất nước”.
Những năm cuối thập niên 1920, Hà Huy Giáp vào Nam hoạt động. Ông sống giữa những người nông dân nghèo, cùng lao động, cùng chia sẻ từng bữa cơm đạm bạc để gây dựng phong trào cách mạng. Đêm đêm, trong những túp lều nhỏ giữa đồn điền lúa, ông đọc cho bà con nghe những cuốn sách như Đường Kách Mệnh hay các tài liệu về chủ nghĩa cộng sản. Lời nói của ông không phải những bài diễn thuyết lớn lao, mà là những câu chuyện giản dị: vì sao người dân nghèo khổ, vì sao đất nước mất tự do, và con đường nào để thay đổi số phận.
Từ những buổi trò chuyện thắp lửa ấy, nhiều tổ chức cách mạng được hình thành. Năm 1929, tại đồn điền Cờ Đỏ (Cần Thơ), Hà Huy Giáp cùng các đồng chí thành lập chi bộ Đảng đầu tiên ở vùng này và trực tiếp làm Bí thư. Phong trào đấu tranh của nông dân dần lan rộng, đòi quyền lợi và chống lại sự bóc lột của chủ đồn điền.
Hoạt động cách mạng luôn đi kèm hiểm nguy. Năm 1931, Hà Huy Giáp bị thực dân Pháp bắt, tra tấn và kết án tù, đày ra Côn Đảo. Nhưng nhà tù không thể bẻ gãy ý chí của người chiến sĩ cộng sản. Trong chốn lao tù khắc nghiệt, ông cùng các đồng chí biến nơi giam cầm thành “trường học cách mạng”, tiếp tục truyền bá lý tưởng và nuôi dưỡng tinh thần đấu tranh.
Năm 1936, ông được thả nhưng vẫn bị quản thúc. Tuy vậy, ngọn lửa cách mạng trong lòng ông không bao giờ tắt. Khi thời cơ lịch sử đến gần, ông tiếp tục tham gia lãnh đạo phong trào đấu tranh và góp phần vào làn sóng cách mạng dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, mở ra kỷ nguyên độc lập cho dân tộc Việt Nam.
Sau ngày đất nước giành chính quyền, Hà Huy Giáp tiếp tục cống hiến trên nhiều lĩnh vực. Ông đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng như công tác tuyên huấn, giáo dục và văn hóa, từng giữ các chức vụ như Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Thứ trưởng Bộ Văn hóa và tham gia nghiên cứu lịch sử Đảng.
Suốt cuộc đời mình, Hà Huy Giáp vẫn giữ phong thái giản dị của một người chiến sĩ. Ông sống thanh bạch, tận tụy với công việc, luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết. Với những đóng góp to lớn cho cách mạng Việt Nam, ông được Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Hồ Chí Minh và các huân chương kháng chiến.
Nhìn lại cuộc đời Hà Huy Giáp, ta thấy hiện lên hình ảnh một con người đã đi qua những năm tháng lịch sử đầy “hoa lửa”. Từ chàng học sinh bị đuổi học vì yêu nước đến người lãnh đạo cách mạng kiên trung, ông đã dành trọn cuộc đời cho độc lập của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.
Ngọn lửa mà ông thắp lên trong những năm tháng gian khổ ấy vẫn còn cháy mãi trong dòng chảy lịch sử Việt Nam, như một lời nhắc nhở rằng: khi lòng yêu nước đủ lớn, mỗi con người đều có thể trở thành một phần của lịch sử.



