Ngọn lửa lòng yêu nước
Mỗi thế hệ đều có trách nhiệm gìn giữ một ngọn lửa: ngọn lửa của lòng yêu nước, của niềm tự hào dân tộc và của khát vọng cống hiến. Ngọn lửa ấy được truyền từ những câu chuyện về các anh hùng trẻ tuổi, những phong trào cách mạng hào hùng và những ký ức không thể phai mờ của các nhân chứng lịch sử. Với mong muốn đưa lịch sử quê hương đến gần hơn với thế hệ măng non, hoạt động “Câu chuyện thời hoa lửa” được triển khai nhằm lan tỏa những giá trị tốt đẹp từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Những kỷ niệm sâu sắc của các cựu chiến binh không chỉ là ký ức về một thời gian khó khăn, gian khổ mà hào hùng, hồi ức ấy còn là những câu chuyện lịch sử sống động, chứa đựng tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và sự hy sinh cao cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Đây chính là những tư liệu quý giá góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp lòng biết ơn và niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ hôm nay.
Đầu tiên, đến với hành trình tìm hiểu và lưu giữ kí ức về lịch sử dân tộc, chúng em vô cùng trân trọng được lắng nghe những chia sẻ của bác Lê Văn Dự - một cựu chiến binh đã từng trải qua những tháng năm gian khổ của dân tộc. Bác sinh năm 1960, quê quán tại xã Phù Đổng Hà Nội , năm 1983(lúc ấy bác 23 tuổi), bác theo tiếng gọi của tổ quốc, bác nhập ngũ vào bộ đội. Khi vào quân đội, qua bao huấn luyện đầy khó khăn, bác được đưa vào đơn vị chính quy ở Cao Bằng. Trong khoảng thời gian một năm ở Cao Bằng, bác làm đường và kinh tế cho đến năm 1984, chiến tranh mặt trận Vị Xuyên-Hà Giang xảy ra, trung đoàn của bác được điều đến tiếp chiến. Bác đã trực tiếp đối mặt với địch trong 2 trận chiến khốc liệt:
Trận chiến đầu tiên xảy ra vào tháng 4/1984, quân đội Trung Quốc mở cuộc tiến công lớn vào khu vực Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, đặc biệt tại xã Thanh Thủy, nhằm chiếm giữ các điểm cao chiến lược dọc biên giới. Ngày 28/4/1984, nhiều vị trí quan trọng, trong đó có cao điểm 1509, rơi vào tay quân Trung Quốc. Trước tình hình đó, quân đội Việt Nam tổ chức lực lượng phòng ngự và mở Chiến dịch MB-84 nhằm giành lại các điểm cao đã mất. Ngày 12/7/1984, bác cùng đồng đội đồng loạt tiến công trên nhiều hướng, nhưng do địa hình núi đá hiểm trở, hỏa lực pháo binh đối phương mạnh và công tác phối hợp còn nhiều khó khăn, cuộc phản công chịu tổn thất rất lớn mà không đạt được mục tiêu giành lại toàn bộ các vị trí. Trong đó, Sư đoàn của bác có nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Cuối năm 1984 và đầu năm 1985, giao tranh tiếp tục diễn ra dữ dội tại các khu vực như cao điểm 685 và những vị trí xung quanh. Các chiến sĩ Việt Nam phải bám trụ trong chiến hào, đối mặt với pháo kích, thiếu nước uống, lương thực và điều kiện sinh hoạt khắc nghiệt. Giai đoạn này trở thành một trong những thời kỳ đau thương nhất của mặt trận Vị Xuyên, để lại những mất mát lớn cho quân đội và nhiều gia đình trên khắp cả nước.
Trận thứ hai bắt đầu từ năm 1985 đến năm 1987, mặt trận Vị Xuyên tiếp tục diễn ra căng thẳng với những trận giành giật các điểm cao như 685, 772 cùng nhiều vị trí phòng ngự khác. Đội của bác cùng các tiểu đội khác tổ chức các đơn vị luân phiên lên chiến đấu, củng cố công sự, giữ trận địa và tìm cách cải thiện thế phòng ngự. Trong khi đó, pháo binh hai bên tiếp tục hoạt động, khiến địa hình núi đá bị cày xới, đường tiếp tế bị chia cắt và việc đưa thương binh ra khỏi chiến trường vô cùng khó khăn. Nhiều chiến sĩ đã hy sinh khi làm nhiệm vụ giữ chốt, vận chuyển lương thực, đạn dược và cứu giúp đồng đội. Những năm tháng ấy gắn liền với tinh thần đoàn kết, ý chí bám trụ và sự hy sinh của nhiều đơn vị bộ đội. Đến năm 1988–1989, cường độ giao tranh tại Vị Xuyên giảm dần, đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn chiến sự ác liệt kéo dài nhiều năm, mặc dù tình hình biên giới vẫn còn những vấn đề cần giải quyết. Cuộc chiến để lại hậu quả nặng nề, với hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ hy sinh và nhiều người chưa tìm được hài cốt. Dù đã qua bao năm nhưng khi nhắc lại, bác vẫn không khỏi nghẹn ngào, bác đã trải qua ranh giới sống còn, qua những ngày thiếu ăn, thiếu mặc, và hơn tất cả là những đồng đội của bác đã hi sinh. Sau cuộc chiến ấy, bác được đơn vị cho xuất ngũ, trở về địa phương. Bác phục vụ quân đội trong suốt 40 năm rồi về gia nhập vào hội Cựu Chiến binh Việt Nam



