Cựu chiến binh

Ngọn lửa người lính không tắt

Ngọn lửa người lính không tắt

Ninh Bình20/04/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiến tranh! Không chỉ là câu chuyện của hôm qua. Sau cuộc chiến, dù trên cương vị công tác nào hay trong cuộc sống đời thường, những Cựu chiến binh, cựu Thanh niên xung phong huyện Thanh Trì vẫn luôn thắp sáng ngọn lửa truyền thống, khí tiết của một người lính từng chiến đấu và trở về từ tuyến lửa.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam (30/4/1975 - 30/4/2025), chúng tôi có dịp gặp CCB Ngô Sỹ Nguyên (xã Thanh Liệt) và Nguyễn Danh Hiến (xã Đại Áng) từng tham gia nhiều trận đánh lớn góp phần cùng dân tộc làm nên chiến thắng lịch sử. Trong ký ức của họ, những kỷ niệm vào sinh ra tử cùng đồng đội cũng như những trận đánh ác liệt tiến vào giải phóng Sài Gòn ngày 30/4/ 1975 vẫn mãi vẹn nguyên. Khi trở về đời thường, 'chất lính' vẫn bền bỉ chảy trong tâm thức, thôi thúc họ tiếp tục dấn thân trên những “trận tuyến” mới, gánh vác nhiều trọng trách, cống hiến cho sự phát triển của quê hương.

🌟Ký ức một thời hoa lửa

Nói chuyện về thời chiến tranh, khí thế của những người lính Cụ Hồ vẫn hừng hực.

Cựu chiến binh Ngô Sỹ Nguyên (SN 1952) hiện sinh sống tại xã Thanh Liệt, là người pháo thủ trẻ tuổi trong chiếc xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập của 50 năm trước. Vẫn còn vẹn nguyên những ký ức, ông bảo cuộc đời binh nghiệp của ông có nhiều kỷ niệm, tham gia nhiều trận đánh và giành nhiều thắng lợi nhưng sự kiện trọng đại nhất mà ông vinh dự được chứng kiến là vào đúng giây phút lịch sử trưa ngày 30/4/1975.

Sinh ra ở mảnh đất Nghệ An anh hùng, năm 1971, chàng trai tuổi 19 Ngô Sỹ Nguyên viết đơn tình nguyện xin gia nhập quân ngũ. Vì thân hình bé nhỏ, cân nặng chỉ vỏn vẹn 40kg, ban đầu bị loại vì không đủ sức khỏe. Vậy nhưng khát vọng đóng góp một phần công sức vào công cuộc giải phóng đất nước, sau nhiều lần năn nỉ, anh cũng đã được thỏa ước vọng. Chịu khó học tập, rèn luyện nên chỉ sau 3 tháng huấn luyện bộ binh, Ngô Sỹ Nguyên được chọn vào lính Tăng thiết giáp. Tháng 12/1971, ông và người đồng đội Nguyễn Văn Tập chính thức gắn bó với chiếc xe tăng 390 thuộc Đại đội 4, Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2. Gian nan vất vả khó có thể sử dụng từ ngữ nào để diễn tả hết, nhưng trong suy nghĩ của những người lính trẻ mới 18 đôi mươi chỉ có một ý chí duy nhất là giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Sáng 10/4/1975 đơn vị ông bắt đầu hành quân từ Đà Nẵng vào tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Trên đường đi, đoàn quân đã tham gia giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết. Ngày ấy, vượt qua bao làn đạn nguy hiểm, cận kề với cái chết, bắn cháy nhiều xe tăng, xe bọc thép, đập tan tuyến phòng thủ của địch. Trưa 30/4/1975, kíp xe tăng mang số hiệu 390, thuộc Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2, nhận lệnh tiến vào Dinh Độc Lập - cứ điểm cuối cùng của chính quyền Sài Gòn. Tiếng động cơ gầm lên, chiếc xe tăng 390 không do dự húc tung cánh cổng sắt Dinh Độc Lập, ghi dấu bước chân đầu tiên của quân Giải phóng vào trung tâm đầu não chế độ cũ.

Ông Ngô Sỹ Nguyên nhớ lại: “Khi đó xe đỗ trong và ngoài dinh Độc Lập rất nhiều. Nhân dân có những khẩu hiệu như Hội hiệp thương Sài Gòn - Gia Định hoan hô quân giải phóng; Hội nghệ sỹ hoan hô quân giải phóng… Hội nào thì cũng dương khẩu hiệu hoan hô hết. Chỉ sau nửa tiếng, chính quyền Dương Văn Minh đầu hàng thì nhân dân Sài Gòn phất cờ đỏ rực cả rừng cờ, nhân dân đi đến đâu là cờ đến đấy tràn ngập thành phố.

Sau chiến thắng 30/4, Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên cùng 3 đồng đội là Trung úy Vũ Đăng Toàn, Trung sĩ Nguyễn Văn Tập và Thiếu úy Lê Văn Phượng tiếp tục tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam trên chiếc xe tăng 390. Chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, họ lại về Bắc phục vụ 4 năm bảo vệ biên giới. Và cứ như thế, hết Nam lại Bắc, hết cuộc chiến này tới cuộc chiến khác, ông Ngô Sỹ Nguyên đã có 10 năm gắn bó với xe tăng 390. Đến năm 2012, chiếc xe tăng mang số hiệu 390 được nhà nước công nhận là Bảo vật Quốc gia.

Những ngày tháng 4 lịch sử, bên ly trà ấm, cựu chiến binh Nguyễn Danh Hiến (sinh năm 1953) hiện sống tại thôn Nguyệt Áng, xã Đại Áng say sưa kể về những năm tháng cống hiến tuổi thanh xuân cho đất nước.

Sinh ra trong gia đình giàu truyền thống cách mạng, ông nội, bố và anh trai của ông đều tham gia kháng chiến chống Pháp; bố ông từng bị địch bắn trọng thương trên chiến trường. Tháng 1/1972, chàng thanh niên Nguyễn Danh Hiến lên đường nhập ngũ, tiếp bước cha anh bảo vệ Tổ quốc và được biên chế về Tiểu đoàn 620, Sư đoàn 338. Đơn vị có nhiệm vụ huấn luyện quân tăng cường cho Quân khu 3, sẵn sàng nhận lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam. Sau 5 tháng huấn luyện tân binh, đơn vị của ông hành quân vào chiến trường miền Nam. Ngày 16/7/1972, khi đến Quảng Trị, ông được biên chế về Trung đội thông tin của Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2).

Giữa những ký ức của một thời chiến trận ùa về, ông Hiến bồi hồi nhớ lại: “Tôi nhớ nhất là trận đánh đêm 12, rạng sáng 13/9/1972 tại Cao điểm 138, dãy Trường Phước, Quảng Trị. Hôm đó, tôi được tăng cường làm nhiệm vụ thông tin cho Đại đội 9. Khi đơn vị tiếp cận mục tiêu, tôi nằm gần đại đội trưởng sau ụ mối, duy trì liên lạc. Bất ngờ, địch bắn cối M19, một quả rơi trúng vị trí của đại đội trưởng khiến anh hy sinh tại chỗ. Đau xót, bàng hoàng, bản thân tôi thì bị mảnh đạn găm vào tay nhưng vẫn cố gắng báo cáo tình hình về tiểu đoàn. Sau trận đánh, tôi được chuyển về tuyến sau điều trị. Cuối năm 1972, vết thương lành, tôi trở lại đơn vị, tiếp tục huấn luyện, sẵn sàng cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975”. Nhờ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên chiến trường, ngày 16/1/1975, chiến sĩ Nguyễn Danh Hiến vinh dự được kết nạp Đảng.

Đầu tháng 3/1975, sau khi hành quân về đóng quân tại xã Cam Chính (huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị), chiến sĩ thông tin Nguyễn Danh Hiến của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 cùng đơn vị tiến quân thần tốc theo trục đường 14B, 15B, áp sát Thừa Thiên Huế, sẵn sàng chờ lệnh giải phóng thành phố.

Ngày 25/3, sau khi Huế được giải phóng, đơn vị ông tiến công Đà Nẵng. Rạng sáng 29/3, Đà Nẵng rung chuyển bởi tiếng pháo. Ông Hiến cùng đơn vị đánh chiếm bán đảo Sơn Trà, làm chủ hệ thống radar trọng yếu.

Sau thắng lợi tại Đà Nẵng, đầu tháng 4/1975, đơn vị ông Hiến đi bằng đường biển vào thành phố Quy Nhơn (tỉnh Bình Định) làm công tác dân vận. Sau đó, đơn vị vượt đèo, băng rừng, đi qua các địa bàn như: Phan Rang (tỉnh Ninh Thuận), Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận), Long Thành, Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai)… Đến 17 giờ ngày 27/4, ông cùng đồng đội mở đợt tấn công vào Trường Bộ binh Long Thành và làm chủ chiến trường.

Rạng sáng 30/4/1975, Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2) của ông Hiến nhận mệnh lệnh xuất kích, với hướng tiến công là Trường Sĩ quan ngụy ở Thủ Đức.

Ông Hiến xúc động chia sẻ: “11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ Quân giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đất nước thống nhất. Khi ấy tôi mới 20 tuổi, đứng giữa nắng trưa rực lửa, nghẹn ngào đến lặng người: Không thể tin được mình còn sống để thấy ngày này. Ngoài đường, nhân dân ùa ra ôm chầm lấy bộ đội, cờ đỏ sao vàng rợp cả một góc trời… Suốt đời tôi không bao giờ quên khoảnh khắc ấy”.

🌟Cống hiến trong thời bình

Có một điều đặc biệt ở những người cựu chiến binh tôi gặp, đó là khi trở về giữa đời thường, bản thân họ luôn trân trọng giá trị của hòa bình và vẫn giữ trọn vẹn tinh thần của người lính cụ Hồ. Suốt nhiều năm nay, họ vẫn nhiệt huyết góp sức mình xây dựng cho quê hương, đất nước, là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ học tập, noi theo.

Đất nước hoàn toàn giải phóng, ông Ngô Sỹ Nguyên trở về với cuộc sống thường nhật. Tháng 1/1982, ông là 1 trong 24 sĩ quan của đơn vị được nhận nhiệm vụ mới về làm nhân viên xếp dỡ hàng hóa tại Cảng Phà Đen (Cảng Hà Nội ngày nay) và lập gia đình. Cuộc sống kinh tế gặp nhiều khó khăn, nên vào tháng 10/1992, ông quyết định thôi công tác tại Cảng Phà Đen, mua một chiếc xe ba bánh về chở hàng. Sau đó ông học lái ôtô lấy bằng E và chính thức chuyển sang lái xe buýt cho Xí nghiệp xe buýt 10/10 vào năm 2002, đảm nhận lái xe tuyến 28 và 37 của Thủ đô.

Sau một thời gian dài cống hiến, năm 2012 ông nghỉ hưu, về tĩnh dưỡng tuổi già, vui vầy bên con cháu. Cuộc sống của ông thường ngày chỉ giao lưu gặp gỡ bạn bè, trông nom những đứa cháu và phụ giúp vợ việc nhà. Có thời gian ông cũng tìm về với chiến trường xưa, với những người đồng đội cũ.

Năm 1977, từ chiến trường trở về, người cựu chiến binh, bệnh binh mang thương tật 61% Nguyễn Danh Hiến đảm nhiệm vai trò Bí thư Chi bộ, thư ký đội sản xuất của thôn Nguyệt Áng (xã Đại Áng). Với những kiến thức có được, cùng tinh thần “thép” của người lính, ông Hiến nhanh chóng bắt nhịp với công tác địa phương, dốc lòng thúc đẩy phong trào thi đua sản xuất tại quê nhà.

Đến năm 1993, ông Hiến được bầu làm Phó chủ tịch Hội Nông dân xã, sau đó giữ chức Chủ tịch Hội vào năm 1994. Ở cương vị này, ông phối hợp với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam triển khai mô hình cấy mạ non, giúp tăng năng suất lúa gấp đôi so với phương pháp truyền thống. Nhờ đó, xã Đại Áng từng bước vươn lên trở thành điểm sáng về ứng dụng khoa học trong nông nghiệp, được nhiều địa phương đến học tập, tham quan.

Giai đoạn 1995-2004, ông Hiến là Ủy viên Ủy ban nhân dân xã Đại Áng, đồng thời giữ chức Phó chủ tịch Hội Người cao tuổi xã. Từ năm 2011 đến năm 2024, ông là Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã. Trong thời gian này, ông cùng Ban Thường trực MTTQ Việt Nam xã triển khai nhiều hoạt động xã hội tại địa phương. Cụ thể, vận động ủng hộ đồng bào miền Trung bị ảnh hưởng bởi bão lũ với tổng số tiền 152 triệu đồng; quỹ “Vì người nghèo” đạt 694 triệu đồng; quỹ “Trường Sa thân yêu” vận động được 137 triệu đồng; hỗ trợ quỹ phòng, chống dịch Covid-19 với tổng trị giá 381 triệu đồng cả tiền mặt và hiện vật… Cùng với đó, ông Hiến cũng tham gia vận động xây dựng nhà ở cho các hộ khó khăn. Từ năm 2014 đến năm 2023, xã Đại Áng đã xây dựng được 20 nhà đại đoàn kết với tổng kinh phí 945 triệu đồng và 12 nhà chính sách với tổng trị giá 990 triệu đồng.

Từ chiến trường năm xưa đến những công việc đời thường nơi quê nhà, ông Nguyễn Danh Hiến tiếp tục khẳng định phẩm chất người lính bằng sự tận tụy và trách nhiệm với cộng đồng. Mỗi cương vị đều ghi dấu những đóng góp âm thầm nhưng thiết thực. Câu chuyện của ông không chỉ khơi lại ký ức một thời gian khó, mà còn nhắn gửi tới thế hệ trẻ hôm nay: Sống trách nhiệm, hành động vì tập thể là cách trân trọng và tiếp nối xứng đáng những giá trị hòa bình mà cha ông đã đánh đổi bằng cả máu xương.

Với mỗi người dân Việt Nam, đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã trở thành một trang sử chói lọi của dân tộc. Còn với các cựu chiến binh huyện Thanh Trì từng tham gia trận đánh giải phòng miền Nam, những ngày tháng lịch sử ấy không thể nào quên và sẽ mãi là niềm tự hào. Chia tay những người cựu chiến binh, những chứng nhân lịch sử ngày đất nước thống nhất, trong tôi vẫn văng vẳng câu chuyện về ngày đất nước chìm trong mưa bom, bão đạn, để rồi trái tim vỡ òa khi đất nước hoàn toàn giải phóng. Một thời tuổi trẻ của những người lính cụ Hồ đã đi qua với biết bao con người đã ngã xuống để thế hệ ngày nay được sống trong hòa bình, vững niềm tin để xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn