Ngọn lửa người lính không tắt
Ông Bùi Đình Chiến là cựu thanh niên xung phong và cựu chiến binh từng tham gia chiến đấu trên tuyến đường Trường Sơn và chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Dù trải qua nhiều gian khổ, mất mát và nhiều lần đối mặt với cái chết, ông vẫn luôn giữ vững tinh thần kiên cường của người lính. Sau khi trở về quê hương, ông tiếp tục cống hiến cho cộng đồng, trở thành tấm gương sáng về lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cho thế hệ trẻ hôm nay.
Ở một góc nhỏ bình yên của xóm 3, xã Khánh Thiện, tỉnh Ninh Bình, có một người cựu chiến binh tuổi đã gần tám mươi nhưng trái tim vẫn luôn rực cháy tinh thần cống hiến. Đó là ông Bùi Đình Chiến – người lính năm xưa từng đi qua mưa bom bão đạn và hôm nay vẫn lặng lẽ góp sức cho quê hương bằng tất cả trách nhiệm và nhiệt huyết của mình.
Dáng người ông nhỏ nhắn, giọng nói chậm rãi, ấm áp cùng nụ cười hiền hậu khiến ít ai nghĩ rằng ông đã từng trải qua những tháng ngày chiến tranh khốc liệt. Nhưng trong ánh mắt sâu thẳm ấy vẫn còn nguyên những ký ức không thể nào quên về một thời tuổi trẻ sẵn sàng hiến dâng tất cả cho Tổ quốc.
Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn cam go nhất, chàng thanh niên Bùi Đình Chiến cũng mang trong lòng khát vọng được ra trận như bao người cùng thế hệ. Thế nhưng, vì thân hình quá gầy yếu, chỉ nặng vỏn vẹn 39 kg nên ông không đủ điều kiện nhập ngũ. Nhắc lại chuyện cũ, ông vẫn cười hiền: “Khám đi bộ đội không được, họ đuổi xuống khỏi bàn cân luôn”.
Tưởng rằng giấc mơ khoác áo lính phải dừng lại, nhưng rồi cơ hội khác đã đến. Bí thư Đảng ủy xã trực tiếp đến vận động ông tham gia Đội Thanh niên xung phong đặc biệt K53 – đơn vị quy tụ những thanh niên ưu tú, giàu lý tưởng cách mạng. Ông trở thành thành viên của “Lớp Anh Trỗi 1”, đơn vị TNXP đặc biệt đầu tiên được Trung ương Đoàn cử thẳng vào chiến trường miền Nam.
Sau hai tháng huấn luyện cấp tốc, ngày 16.8.1965, ông cùng hơn 300 đồng đội lên đường vào Nam. Đó là cuộc hành quân gian khổ kéo dài gần hai tháng trời, hoàn toàn đi bộ xuyên rừng Trường Sơn. Để tránh máy bay địch, đoàn quân chỉ đi trong đêm, ban ngày trú ẩn giữa núi rừng. Những con đường hiểm trở, những bến phà bị đánh phá dữ dội ở Thanh Hóa, Quảng Bình… trở thành ký ức theo ông suốt cuộc đời.
Vượt qua sông Bến Hải, đến Quảng Trị, ông Chiến được phân công phục vụ trên tuyến đường 559 huyền thoại – đường mòn Hồ Chí Minh. Công việc của ông và đồng đội vô cùng nguy hiểm: làm giao liên, dẫn đường, vận chuyển lương thực, vũ khí vào chiến trường. Trên vai họ là những thùng đạn nặng trĩu, những bao gạo, những quả đạn B40. Khi trở ra, họ lại cáng thương binh vượt núi, băng rừng về tuyến sau.
Con đường ấy không chỉ in dấu chân mà còn thấm đẫm máu và nước mắt. Ông vẫn không thể quên lần vượt sông Thạch Hãn trong mùa nước lũ. Đồng đội phải bám vào dây thừng để bơi qua dòng nước xiết. Nhưng trong một chuyến đi định mệnh, sợi dây bất ngờ đứt, người đồng đội tên Hưởng bị nước cuốn trôi mãi mãi. Giọng ông nghẹn lại khi nhắc đến: “Chưa kịp đánh trận nào đã hy sinh rồi...”.
Năm 1967, trước yêu cầu khẩn cấp của chiến trường, đơn vị TNXP của ông được bổ sung vào lực lượng Quân giải phóng. Ông trở thành chiến sĩ của Trung đoàn 6, Quân khu Trị Thiên – đơn vị sau này được phong tặng danh hiệu Trung đoàn Phú Xuân Anh hùng.
Năm 1968, ông tham gia chiến dịch Mậu Thân tại Huế suốt 26 ngày đêm ác liệt. Cuộc sống nơi chiến trường vô cùng thiếu thốn. Những người lính phải sống chung với rận, chấy, ghẻ lở và sốt rét rừng. Nhưng tất cả vẫn kiên cường chiến đấu bằng ý chí không gì lay chuyển được.
Có lần, khi đang cõng hai thùng đạn B40 nặng hơn 30 kg, cơn sốt rét ác tính quật ngã ông giữa đường hành quân. Dù sốt cao kéo dài, ông vẫn cố gắng bước tiếp cho đến khi kiệt sức và bất tỉnh suốt ba ngày. Chính những người đồng đội đã thay nhau cáng ông cùng toàn bộ quân trang vượt núi xuống nơi điều trị. Nhớ lại khoảnh khắc ấy, ông xúc động nói: “Nếu hôm đó tiểu đội trưởng không quyết đưa tôi xuống núi thì chắc tôi không còn sống đến bây giờ”.
Năm 1972, trong một trận bom B-52 dữ dội, căn hầm nơi ông trú ẩn bị đánh sập. Một thanh gỗ lớn rơi trúng đầu khiến máu chảy rất nhiều. Dù bị thương nặng, ông vẫn cố chịu đựng để không phải rời đơn vị, bởi điều ông sợ nhất không phải đau đớn mà là không được tiếp tục chiến đấu cùng đồng đội.
Năm 1973, sau nhiều năm xa quê, ông được về phép. Mẹ già nhìn con trai đã lớn tuổi mà chưa lập gia đình nên vừa khóc vừa giục cưới vợ. Thương mẹ, ông tổ chức đám cưới đơn sơ rồi chỉ 12 ngày sau lại trở về chiến trường. Đó cũng là lần cuối cùng ông được gặp mẹ. Năm 1974, mẹ ông qua đời khi ông vẫn còn ở nơi tuyến lửa.
Đến năm 1976, ông Bùi Đình Chiến xuất ngũ trở về quê hương. Chiến tranh khép lại nhưng tinh thần người lính trong ông chưa bao giờ tắt. Ông tiếp tục cống hiến cho quê hương với vai trò Bí thư chi bộ, xóm trưởng, tham gia Hội Cựu chiến binh và hiện là Chủ tịch Hội Cựu Thanh niên xung phong của xã.
Nhiều người hỏi vì sao tuổi đã cao mà ông vẫn luôn tất bật việc làng việc nước, ông chỉ cười hiền hậu: “Tôi ăn cơm Nhà nước từ năm 18 tuổi. Giờ là bệnh binh vẫn hưởng chế độ của Nhà nước. Không ‘vác tù và hàng tổng’ thì làm gì nữa”.
Câu nói giản dị ấy chứa đựng cả một triết lý sống đẹp về trách nhiệm và lòng biết ơn. Với ông Chiến, được cống hiến cho quê hương chưa bao giờ là gánh nặng, mà là niềm tự hào của một người lính từng đi qua chiến tranh.
Hành trang của ông hôm nay là những tấm huân chương, huy chương, bằng khen – minh chứng cho một thời tuổi trẻ đầy máu lửa và cả những năm tháng tận tụy trong thời bình. Trong đó có Huân chương Kháng chiến hạng Ba do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước trao tặng.
Theo ông Phạm Văn Toàn – Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Khánh Thiện – ông Bùi Đình Chiến luôn là người cán bộ nhiệt tình, trách nhiệm, gương mẫu trong mọi phong trào của địa phương và được các cấp biểu dương, khen thưởng nhiều lần.
Cuộc đời ông Bùi Đình Chiến giống như một bản anh hùng ca lặng thầm về lòng yêu nước, về sự hy sinh của cả một thế hệ đã dành trọn tuổi xuân cho độc lập dân tộc. Và hôm nay, ngọn lửa ấy vẫn tiếp tục được ông truyền lại cho thế hệ trẻ – ngọn lửa của lòng yêu nước, của tinh thần sống có trách nhiệm và phụng sự quê hương đến suốt cuộc đời.



